Trăng suông (thâu) & Trăng trong Truyện Kiều

Trăng suông

Thuở trước chưa có điện, vào ban đêm mọi hoạt động ngoài trời của con người phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng của Trăng. Dân quê tôi gọi ánh trăng vào canh khuya là trăng suông (khoảng từ 11 giờ đêm đến 4 – 5 giờ sáng, tùy mùa). Chữ “suông” có thể là biến thể từ chữ “sáng” mà ra, bởi nếu có mây che thì người ta không gọi là trăng suông mà gọi là trăng lu, (Đêm nay gió rét trăng lu – Tố Hữu). Trăng suông rất sáng, bầu trời trong vắt, không gian yên tĩnh, hình như lúc ấy chỉ còn lại thiên nhiên, nếu con người hoạt động dưới ánh trăng thì con người cũng đã thuộc về thiên nhiên. Vào dịp cuối Thu, đầu đông đêm Trăng suông thêm không khí giá lạnh càng làm cho cảnh khuya thêm đẹp và buồn. Vì thế, từ ngàn xưa, Trăng suông đã đi vào thơ ca, hòa quyện với cảnh sắc muôn màu của thiên nhiên và đời sống phong phú của con người ; Trăng suông đã làm biết bao thi sĩ say đắm ; và cũng nhờ chất liệu ấy (trăng suông) mà nhiều thi sĩ tài hoa đã đi vào lịch sử nhân loại bằng những tác phẩm Thơ ca vĩ đại.

Hồi còn nhỏ, tôi đã nhiều lần ngắm cảnh Trăng suông, chẳng những thế còn tận dụng những đêm trăng suông để đi mò cá, đi lấy củi trên rừng. Quê tôi muốn lấy củi phải đi tới 15 cây số, thường người ta đi và về trong ngày vì vậy khoảng 3 giờ sáng đã phải dậy đi, hôm đi có trăng suông thì thật tuyệt, vừa đi vừa ngắm cảnh hai bên đường, càng gần tới núi, phong cảnh càng nên thơ, ta có cảm giác gần gũi gắn bó với thiên nhiên hơn.

Có đến hơn 40 năm đã trôi qua tôi không còn được ngắm cảnh trăng suông nữa. Bởi lẽ, khi ở  bộ đội thì chui lủi trong rừng, khi về thành phố thì ánh điện sáng suốt đêm can thiệp, thật khó nhận diện ra một đêm trăng suông đúng nghĩa. Vừa rồi về quê, tôi lại có dịp ngắm cảnh trăng suông. Miền quê bây giờ cũng khác trước nhiều rồi, đường đổ bê tông, nhà cửa xây cao to, cây cối ít đi, điện tuy không sáng bằng thành phố nhưng cũng đủ làm cho người muốn ngắm cảnh trăng suông không thấy gần gũi với thiên nhiên như xưa nữa. Tuy vậy, dưới ánh trăng tôi vẫn bồi hồi nhớ lại hình ảnh mình, nhớ lại những người thân, bạn bè năm xưa ấy. Thật xúc động biết bao.

Có thể nói, tôi yêu thích Truyện Kiều một phần là yêu cảnh thiên nhiên trong đó, mà cảnh trăng suông (trăng thâu) trong Truyện Kiều là một ví dụ. Tôi không có khả năng diễn tả bằng lời cảm nhận của mình về thiên nhiên, nhưng khi đọc Truyện Kiều, qua những vần thơ tả cảnh của cụ Nguyễn Du tôi cảm nhận được nét đẹp tuyệt vời ấy. Những âm thanh, cảnh vật, màu sắc của thiên nhiên trong truyện Kiều làm tôi mê say, nó gắn bó chặt chẽ, mật thiết giữa thiên nhiên với con người tài tình tài tình đến mức làm cho trái tim tôi thường xuyên rung động khi đọc các câu Kiều. Tôi có cảm giác, từ thời đại Nguyễn Du đến thế hệ chúng tôi sinh ra cách nay 5o, 6o năm, dài hơn hai trăm năm nhưng sao mà gần gũi; những cảnh sắc, âm thanh trong Truyện Kiều dường như còn hiển hiện trên quê hương mình. Ấy vậy mà, chỉ khoảng 40, 50 năm nay thiên nhiên đã thay đổi quá nhiều, con người dần dần xa rời thiên nhiên, hay nói đúng hơn con người đã can thiệp thô bạo đến thiên nhiên, làm cho chất lượng cuộc sống ngày một thiên về hưởng thụ vật chất, đồng thời nghèo nàn về tinh thần, về tình yêu. Nặng nề hơn, con người đang hủy hoại môi trường sống của chính mình. Vì thế mà ngày nay tuổi trẻ không còn ham thích truyện Kiều nữa chăng ? Đáng tiếc thay !

Trăng trong Truyện Kiều

Trong rất nhiều cảnh thiên nhiên Nguyễn Du giới thiệu với hậu thế qua Truyện Kiều, trong đó Cụ không bỏ sót cảnh “Trăng suông”.

Tôi giới thiệu những câu thơ có chứa từ “Trăng” trong Truyện Kiều :

1). 15. Đầu lòng hai ả Tố Nga – Chỉ hai chị em Thúy Kiều.

2). 20. Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang – Ví khuôn mặt Túy Vân đẹp như mặt trăng.

3). 137. Đề huề lưng túi gió trăng – Ví người phong lưu.

4). 174. Gương Nga chênh chếch nhòm song – Ánh trăng chiếu qua song cửa sổ.

5). 177. Một mình lặng ngắm bóng Nga – Ngắm trăng

6). 185. Chênh chênh bóng Nguyệt xế mành – Dùng ánh trăng để chỉ thời gian.

7). 251. Tuần Trăng Khuyết, đĩa dầu hao – Chỉ thời gian trôi đi.

8). 288. Tuần Trăng thắm thoắt nay đà thêm hai – Chỉ thời gia trôi đi.

9). 369. Lần lần ngày gió đêm Trăng – nt

10). 396. Góp lời phong Nguyệt, nặng nguyền núi sông – Ví câu  chuyện tình.

11). 433. Nhặt thưa gương rọi đầu cành – Ánh Trăng rọi xuống vườn cây, lá cành đung đua xào xạc, ánh sáng lọt qua cành lá, đan qua đan lại, lúc nhặt lúc thưa trên lối đi.

12). 438. Bóng Trăng đã xế, Hoa lê lại gần – Phép đối ứng ước lệ, bóng trăng đã xế, đã ta, trong khi “Hoa lê lại gần”, tức Thúy Kiều đã tới gần Kim Trọng. Ta hình dung, một đêm trăng sáng vằng vặc, đang nằm tương tư nhớ mong người yêu, bỗng dưng như có phép màu, người yêu xuất hiện. Khỏi phải nói, ta sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao như thế nào ?

13). 449. Vầng Trăng vằng vặc giữa trời – Trăng rất sáng, trăng suông.

14). 455. Sinh rằng gió  mát Trăng Trong – Nghĩa đen đúng.

15). 461. Đừng điêu Nguyệt nọ hoa kia. – Ví như đừng yêu lăng nhăng.

16). 541. Trăng thề còn đó trơ trơ- nhắc lại lời thề dưới Trăng

17). 687. Trăng già độc  địa làm sao – duyên phận bạc bẽo lại trách ông Tơ bà Nguyệt.

18). 808. Quen mùi lại kiếm ăn miền Nguyệt Hoa – Ví chuyện tình ái.

19). 906. Kìa gương nhật Nguyệt, nọ dao quỷ thần – Lời thề độc của Mã giám sinh trước Vương Ông. Nhưng sau lời thề, ngay lập tức Mã dục ngựa phi “Đùng đùng gió dục mây vần” Qua đó, người đọc nhận biết, đấy chỉ là lời thề cho qua chuyện của Mã. Đọc Kiều đôi khi phải tìm thấy những chi tiết như thế mới thấy được tài thơ của Đại thi hào Nguyễn Du và mới cảm nhận được sự thú vị.

Lạ. Khi yêu nhau, thề nguyền yêu thương nhau suốt đời người ta thề dưới Trăng, cuộc tình vì thế càng thêm đẹp. Đến khi cần một lời thề độc, người ta cũng dùng đến Trăng làm chứng.

20). 916. Thấy Trăng mà thẹn những lời non sông – Khi Kiều lỗi hẹn với Kim, nhìn thấy trăng mà lòng cảm thấy hổ thẹn vì những lời thề nguyền với Kim khi xưa, những lời thề ấy từng được Trăng chứng kiến (câu 449).

21). 1034. Vẻ non xa, mảnh Trăng gần ở chung – Phép đối ngẫu.

22). 1039. Tưởng người dưới Nguyệt chén đồng – Nhớ khi ngồi uống rượu dưới trăng với Kim Trọng.

23. 1063. Bóng Nga thấp thoáng dưới mành – Ví người đẹp thấp thoáng bên rèm.

24). 1067. Giá đành trong Nguyệt trên mây – Phép đối ứng, hơi tối nghĩa.

25). Gió cây trút lá, Trăng ngàn ngậm gương – Chỉ thời gian, trăng sắp lặn, tức đêm đã khuya hoặc sắp sáng.

26). 1199. Vừa tuần Nguyệt sáng Trăng trong – Chỉ thời gian, tức khoảng giữa tháng.

27. 1218. Giường chau nét Nguyệt, giường phai giọt hồng. – Khuôn mặt người con gái đẹp chau lại.

28). 1242. Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề Trăng Thâu – Trăng suông – vào lúc đã khuya. Nếu xem cả câu trên “Đòi phen gió tựa hoa kề” – thì chỉ hai câu thơ (14 từ) mà gồm cả Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt – Thật tuyệt !

29). 1246. Cung cầm trong Nguyệt, nước cờ dưới hoa – Phép biến ngẫu, đúng ra phải là “cung cầm dưới Nguyệt”.

30). 1285.? Nguyệt Hoa, Hoa Nguyệt não nùng (hai lần) – Phép luyến láy kỳ tài của Nguyễn Du. Cảnh say mê vì tình.

31). 1290. Trước còn Trăng gió, sau ra đá vàng – Phép biến ngẫu – Thuở đầu chỉ gặp nhau chơi bời, nhưng sau kết thành duyên vợ chồng.

32). 1295. Khi gió gác, khi Trăng sân – Ngồi dưới trăng tình tự, uống rượu

33). 1307. Dưới Trăng Quyên đã gọi hè – Chỉ mùa hè đã tới.

34). 1339 & 1340.? Vả trong thềm quê Cung Trăng,

Chủ trương đã có ả Hằng ở trong (hai lần) – Chỉ Thú Sinh đã có vỡ rồi.

35). 1436. Để ai Trăng tủi, hoa sầu vì ai – Phép biến ngẫu và phân từ đi kèm : Trăng – Hoa ; Tủi – Sầu – Thật tuyệt.

36). 1448. Trăng hoa song cũng thị phi biết điều – Người có thói Trăng hoa nhưng cũng hiểu đời.

37). 1525. Vầng Trăng ai sẻ làm đôi – Tả tình cảm của Kiều nhớ thương Thúc Sinh.

38). 1538. Giận người đen bạc đem lòng Trăng Hoa – Trách người đã có vợ rồi mà còn ăn chơi (làm cho chàng Thúc giật mình).

39). 1593. Đèn khuya chung bóng, Trăng tròn sánh đôi – Cảnh sinh hoạt vợ chồng thật hạnh phúc, lúc nào cũng cặp kè bên nhau. (Đấy là hiểu theo nghĩa đen hình thức thể hiện bên ngoài. Kỳ thực cả Thúc Sinh lẫn Hoạn Thư đều có toan tính khác nhau).

40). 1596. Một màu quan tái bốn mùa gió Trăng – Sống bên vợ đã lâu, Chàng Thúc bắt đầu buồn chán nhớ tới chốn giang hố, nhớ tới Kiều.

41).1636. Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao – Theo thần thoại thì chị Hằng Nga ở trơ trọi một mình trong cung Quảng hàn trên mặt trăng.

42). 1638. Nửa vành Trăng khuyết ba sao giữa Trời – Tức là chữ TÂM (chữ nho : chữ Tâm bao gồm nửa vành tròn và ba chấm bên cạnh). Thúc sinh tên là Tâm, Thúc Kỳ Tâm. Câu này tả khi Thúy Kiều tương tư nhớ Thúc Sinh trong thời gian Thúc Sinh về thăm vợ. Nghĩa đen, ba sao giữa trời là ba ngôi sao sáng ở giữa chòm sao Thần nông, thường gọi là sao Tâm.

Trở lại câu 1525 “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” khi Thúc sinh chia tay Kiều, ta mới thấy tình cảm của Kiều đối với Thúc sinh sâu nặng như thế nào, mặc dù trước đó nàng có nói “Đôi ta chút nghĩa đèo bòng”. Không hiểu có phải Kiều nhớ thương Thúc sinh thực lòng, hay vì đơn côi nơi đất khách quê người mà buộc nàng phải nương tựa nhờ vả đến Thúc sinh ?

43). 1793. Mày ai Trăng mới in ngần – Nhớ khuôn mặt Thúy Kiều có đôi lông mày đẹp, sắc như Trăng đầu tháng (mày cong như trăng lưỡi liềm).

44). 1934. Sân Thu Trăng đã vài phen đứng đầu – Chỉ thời gian, tức đã vài tháng.

45). 2028. Lần đường theo bóng Trăng tà về tây – Trăng đã xế, sắp tàn gọi là Trăng tà. Câu này trong ngữ cảnh khi Thúy Kiều chạy trốn khỏi nhà Hoạn Thư, ta có thể đoán định đây là trăng đầu tháng, bởi chờ đêm tối yên tĩnh Kiều mới trốn đi, mới ra đi mà đã lần theo ánh trăng tà thì nghĩa là trăng đầu tháng vậy.

Lần trước (câu 1120) Kiều theo Sở Khanh đi trốn cũng một đêm trăng, nhưng không phải đầu tháng mà là trung tuần : “Đêm thâu khắc lậu canh tàn/Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương”. Chẳng phải uống rượu, chẳng phải tự tình tâm sự mới có trăng chứng giám ; ngay cả đi trốn cũng có trăng theo. Quả thật Nguyễn Du đã khai thác triệt để ông trăng trên trời để nói đến con người đến xã hội.

46). 2180. Phải người Trăng gió vật vờ hay sao – chỉ người ham ăn chơi.

47). 2593. Phải tuồng Trăng gió hay sao – nt-

48). 2617. Mảnh Trăng đã gác non đòai – Chỉ Trăng sắp lặn, hay trời sắp sáng.

49). 2734. Gió Trăng mát mặt, muối dưa chay lòng – Đúng nghĩa đen.

50). 2746. Song Trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời – Chỉ cửa sổ nơi Thúy Kiều thường ngồi ngắm Trăng nay đã hư hại, rách nát.

51). 3025. Bấy chầy giải Nguyệt dầu Hoa – Phép phân từ – Ý nói cuộc đời chìm nổi sóng gió của Thúy Kiều.

52). 3074. Còn vầng Trăng bạc, còn lời nguyền xưa – Trăng vẫn còn, tuy không sáng lắm, chỉ Thúy Kiều tuy đã trải qua bao sóng gió cuộc đời nhưng vẫn còn xuân sắc (Mười phần xuân cũng gầy ba bốn phần) và đặc biệt lời thề với Kim Trọng ngày xưa vẫn còn nguyên. Đấy là lý do khiến Thúy Kiều phải chấp nhận làm lễ giao bái với Kim Trọng.

53). 3094. Hoa thơm phong nhụy, Trăng vòng tròn gương. Tả tình cảm đôi lứa khi Kim Kiều tái ngộ vẫn đẹp như hoa còn nhụy, trăng còn tròn.

54). 3100. Mấy Trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn. Phép tiểu đối. Quá hay, trong một câu tám chữ mà hai vế đối nhau rất chuẩn. Đây là nghệ thuật được Nguyễn Du thể hiện rất tài tình trong Truyện Kiều. Đọc c lên ta thấy cuộc đời Thúy Kiều biết bao chìm nổi, đến đẹp như Thúy Kiều mà còn không giữ được hương sắc nữa.

55). 3124. Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Chỉ tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng tuy vật vã  sau bao sóng gió cuộc đời, nhưng vẫn đẹp như trăng rằm. Qua đây thể hiện lòng thủy chung son sắt của Kim Trọng đối với Thúy Kiều cao thượng như thế nào ?

56). 3140. Bi hoan mấy nỗi đêm chầy Trăng cao – Chỉ thời gian, đêm khuya rồi, trăng đã lên cao – trăng vào dịp nửa sau của tháng.

57).3176. Là nhiều vàng đá, phải tìm Trăng hoa ? – Chuyện trăng hoa, chuyện trai gái ân ái. Ở đây Kim Trọng muốn nói với Thúy Kiều rằng bấy lâu tìm kiếm Thúy Kiều là vì nghĩa phu thê, chứ đâu vì chuyện trăng hoa. Bây giờ lấy nhau rồi thì cũng vì nghĩa phu thê chứ chẳng phải vì chuyện chăn gối. Vì câu nói này mà Kiều phải “khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng”.

58). 3224. Khi xem hoa nở, khi chờ Trăng lên. Chờ ngắm cảnh trăng lên là thú vui tao nhã của giới nhà giàu ngày xưa.

Lời kết

Trong Truyện Kiều, có 59 câu Nguyễn Du dùng từ Trăng hoặc những từ khác thay cho từ Trăng để đặc tả Người, tả Tình Cảm, tả Thiên Nhiên và giới thiệu về Thời gian, Không gian. Từ “Trăng” được dùng nhiều nhất đến 41 lần, từ “Nguyệt” 11 lần, từ “Nga” 4 lần, “ả  Hằng” 2 lần và “Gương” 1 lần. Điều tuyệt vời là, 59 lần Nguyễn Du dùng đến Trăng mà ý tứ không hề lặp lại. Ngoại trừ “Trăng” trong câu 1067, còn lại tất cả các câu đều rất dễ hiểu, dù ngụ ý muốn nói đến điều gì. Bằng ngòi bút điêu luyện, bằng nghệ thuật tài tình, Nguyễn Du giới thiệu cho ta chiêm ngưỡng một Thúy Kiều tuyệt đẹp ; cho ta cảm nhận được tình yêu bền chặt, cao thượng giữa Kim Trọng và Thúy Kiều ; một tình yêu lãng mạn, say đắm giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh ; cho ta thưởng thức cảnh vật thiên nhiên muôn màu muôn vẻ hiện hình rõ nét dưới ánh trăng ; và cho ta thấy sự chuyển vần của thời gian, tuy theo quy luật nhưng thật yểu điệu, thật sống động hòa lẫn cùng cảm xúc của con người.

Có phải vì thế mà Truyện Kiều đã làm say đắm bao thế hệ con người, Truyện Kiều sống mãi với thời gian, với con người Việt Nam chăng ?

cialis buy