Chữ Xuân, Mùa Xuân trong Truyện Kiều

Trong Truyện Kiều, 58 lần Nguyễn Du dùng chữ Xuân, hay mùa Xuân để tả người, tả tình, tả tâm trạng, tả thời gian, không gian, địa điểm. Như vậy, song song với dùng từ Trăng, ánh trăng, Xuân và mùa Xuân được Nguyễn Du khai thác triệt để, điêu luyện giúp cho người đọc nâng cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên, con người và tình yêu. Tôi xin mạo muội tổng hợp giới thiệu :

1) 25. Làn thu thủy, nét Xuân sơn – Đẹp như núi mùa xuân, đặc tả sắc đẹp của Thúy Kiều.

2) 36. Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê – Chỉ tuổi Thúy Kiều, tức khoảng 14, 15 tuổi.

3) 39. Ngày Xuân con én đưa thoi – Đúng nghĩa đen. Mùa xuân én bay về chao liệng tìm mồi.

4) 46. Chị em sắm sửa bộ hành chơi Xuân – Mùa chơi xuân.

5) 66. Nửa chừng Xuân, thoắt gẫy cành thiên hương – Đang tuổi trẻ mà bị chết

6). 156. Một nền đồng tước khóa Xuân hai kiều – Ví người đẹp, còn trẻ.

7) 163. Xuân Lan, Thu cúc mặn mà cả hai – Mùa xuân có hoa lan, mùa thu có hoa cúc, cả hai đều đẹp được tôn vinh đại diện cho hai mùa. Ở đây Nguyễn Du muốn nói Kim Trọng và Thúy Kiều quả xứng đôi vừa lứa.

8) 176. Giọt sương gieo nặng cành Xuân la đà – Cành lá mùa xuân

9) 338. Ngày Xuân đã dễ tình cờ mấy khi – Chỉ dịp may ngày tốt hiếm có.

10) 344. Cũng liều bỏ quá Xuân xanh một đời – Hy sinh tuổi trẻ.

11) 345. Lượng Xuân dù quyết hẹp hòi – Chỉ lòng cha mẹ.

12) 348. Chiều Xuân dễ khiến, nét Thu ngại ngùng – Chữ tình thì dễ chiều, nhưng còn chữ hiếu nên phải lưỡng lự chưa quyết được.

13) 368. Tin Xuân đâu dễ đi về cho năng – Tin vui

14) 370. Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua – Mùa xuân đã qua.

15) 424. Lòng Xuân phới phới – nét Xuân tàng tàng – Lòng Xuân – lòng người, chén Xuân – chén rượu ngon, chén rượu tình. Câu thơ tuyệt hay – vừa say tình vừa say rượu !

16) 440. Còn ngờ giấc mộng ngày Xuân mơ màng.

17) 534. Xuân đường kịp gọi Sinh về hộ tang – Chỉ người cha.

18) 620. Liệu đem tấc cỏ báo đền ba Xuân – Chỉ tấm lòng của con đối với cha mẹ.

19) 673. Cội Xuân tuổi hạc càng cao – Ý nói người cha đã già.

20) 713. Thúy Vân chợt tỉnh giấc Xuân – Giấc ngủ mùa Xuân, giấc ngủ ngon. Đoạn này khó xác định thời gian, tuy nhiên nếu suy diễn, thời điểm Thúy Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Truy là mùa thu (rừng phong thu đã một màu quan san) thì thời điểm này không phải mùa xuân, nếu không mùa thu thì cũng cuối hè. Vì lẽ đó, câu thơ này Nguyễn Du chỉ có thể tả giấc ngủ của Thúy Vân mà thôi. Từ chi tiết này, người đời cho rằng Thúy Vân hoặc là đang quá trẻ con, ngây thơ, hoặc là người vô tư, không cả nghĩ như Thúy Kiều. Trong khi chị gái đang thổn thức đau đớn vì phải bán mình chuộc cha mà nàng Vân vẫn ngủ say sưa như chẳng có gì xẩy ra ! “Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn/Thúy Vân chợt tỉnh giấc Xuân”. Đọc câu thơ ta thấy điều gì đó muốn dận Thúy Vân. Sao có người vô tư đến mức nhẫn tâm như thế ?

21) 731. Ngày Xuân em hãy còn dài – tuổi còn trẻ

22) 759. Xuân Huyên chợt tỉnh giấc nồng – Cha mẹ

23) 786. Bốn bề Xuân khóa một nàng ở trong – Khóa người đẹp trong phòng – Ý nói Thúy Kiều không được tự do nữa, đã là gái có chồng rồi.

24) 849. Đêm Xuân một giấc mơ màng – Đây không chỉ mùa xuân mà chỉ đêm tân hôn. Cho đến lúc này, Thuý Kiều và người thân đều nhầm lẫn, Mã Giám Sinh mua Kiều về làm vợ. Cho dù tuồi tác chênh lệch và có thể là làm vợ bé (lẻ) nhưng quan hệ giữa Mã và Thúy Kiều vẫn là quan hệ vợ chồng. Có lẽ vì muốn làm nổi bật sự nhầm lẫn này nên Nguyễn Du đã dùng “đêm xuân” để chỉ những đêm Mã ngủ với Kiều. (Chúng ta tiếp tục theo dõi ý nghĩa của việc này đến đoạn sau nghe tiếng kêu ai oán của Vương bà, khi Vương bà được Kiều nói lên sự thật mới thấy được tuyệt bút của Nguyễn Du). Kiều là cô giái thông minh, qua một đêm chung đụng với Mã nàng đã nhận ra chân tướng của y, sau đó nàng đã thuật lại sự tình cho mẹ nghe. Và nỗi đau đớn của người mẹ khi biết được sự thật : “Vương bà nghe bấy nhiêu lời/tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên”. Quả thật, những nghi ngờ mà nàng nói với mẹ sau đó đã thành sự thật.

25) 1006. Hoa Xuân đương Nhụy, ngày Xuân còn dài (2 lần) – Tuổi còn trẻ

26) 1010. Khóa buồng Xuân để đợi ngày đào non – Ý nói cấm cung để chờ ngày lấy chồng tử tế.

27) 1033. Trước lầu Ngưng Bích khóa Xuân – Ý nói Kiều ở trong lầu Ngưng Bích

28) 1240. Một mình nào biết có Xuân là gì – Không được hưởng tuổi Xuân

29) 1262. Cành Xuân đã bẻ cho người chuyên tay – Ví người đẹp đã về tay người khác.

30) 1284. Ngày Xuân càng gió, càng mưa, càng nồng – ba từ “càng” nhấn mạnh – tình cảm đã phát triển đến đỉnh điểm.

31) 1286. Đêm Xuân ai dễ cầm lòng được chăng ? – Ở bên người đẹp liệu ai có thể cầm lòng ?

32) 1292. Lại vừa gặp khoảng Xuân đường về quê – Xuân đường – chỉ người cha.

33) 1294. Ngày Xuân lắm lúc đi về với Xuân – Hai chữ Xuân là một, nhưng cũng không phải là một.

34) 1328. Chúa Xuân đành đã có nơi – đã có người để tôn thờ rồi.

35). 1388. Cởi yên đã thấy Xuân đường tới nơi – như câu 1292

36) 1500. Xuân Đình thoắt đã dạo qua Cao Đình – Xuân Đình, cao Đình đều có chữ “đình” đi sau nhưng hai chữ đình này không cùng nghĩa. Đình là nơi tập trung dân làng trong các dịp họp hành lễ hội. Xuân Đình – Nguyễn Du muốn nói dưới mái đình đồng vui, hay nơi Thúc ông và Kiều tổ chức tiễn Thúc Sinh về quê. Cao Đình là tên một ngọn núi cao thuộc tình Chiết Giang, Trung Quốc. Núi càng cao thì độ che khuất càng nhiều. Ý nói rằng Thúc Sinh và Kiều vừa cầm tay nhau đó mà thoắt đã xa nhau như có ngọn núi Cao Đình che khuất. Cao Đình ở đây nói đến sự chia ly mà thôi.
37) 1703. Tiếc hoa những ngậm ngùi Xuân. Thương tiếc Thúy Kiều mà ngậm ngùi nhớ lại những ngày tháng chung sống với Kiều. Xin giới thiệu cầu liền sau đó : Thân này dễ đã mấy lần gặp Tiên. Thúc Sinh cho rằng những ngày tháng chung sống với Kiều như được chung sống với Tiên ! Trong các mối quan hệ, Thúc Sinh được Nguyễn Du mô tả như một người đàn ông yếu đuối, hèn nhát (hai lần phải ra tòa vì mối tình với Kiều, hai lần phải đối mặt với vợ cả cũng vì lén lút lấy Kiều làm vợ le Thúc sinh đều thể hiện đúng bản chất của mình – ích kỷ, hèn nhát, run sợ. Trong đời sống thực, từ cổ chí kim khó có câu chuyện tình nào giống như bi kịch của Thúc sinh và nàng Kiều. Có thể nói, Thúc sinh rất yêu thương Kiều nhưng vì bản chất hèn nhát và ích kỷ, trong tất cả các trường hợp anh ta đều buông xuôi, phủi tay buộc Kiều phải tự mình xử lý, anh ta chỉ lo cho anh ta ; ngoại trừ một lần phải đối diện với chính người cha của mình, anh ta nói : rằng con biết tội đã nhiều/dẫu rằng sấm sét, búa rùi cũng cam. Chính vì câu nói ấy mà Thúc ông đưa anh ta ra tòa. Nhưng nên lưu ý, anh ta quyết tâm như thế là vì anh ta quyết giữ lấy Kiều cho mình, và khi anh ta phải ra trước tòa, theo luật thì chỉ Kiều bị trị tội mà thôi. Tuy thế mối tình giữa Kiều và Thúc sinh được Nguyễn Du miêu tả sinh động hơn cả. Từ khi gặp nhau ở lầu xanh (câu 1279) đến lần cuối cùng Thúc sinh trả lời người nhà Kim Trọng (câu 2926) là 1647 câu. Hơn một nửa Truyện Kiều, Nguyễn Du luôn cài hình bóng Thúc sinh, dù không phải lúc nào Thúc Sinh cũng xuất hiện. Nhưng có thể nói, kể cả khi Kiều bỏ trốn Thúc sinh luôn để ý theo dõi từng bước đi của Thúy Kiều, kể cả giai đoạn Thúy Kiều lấy Từ Hải và sau đó bị nạn. Người đời vẫn cho Thúc sinh là kẻ hèn nhát, nhưng dù sao trước sau Thúc sinh vẫn yêu nàng Kiều, vẫn quý trọng và khâm phục nàng Kiều. Ngay từ khi mới gặp nhau, Nguyễn Du đã cho ta biết Thúc sinh không thể sánh được với Kiều : lạ cho cái sóng khuynh thành/làm cho đổ quán xiêu đình như chơi. Tuy thế Nguyễn Du cũng tỏ ra tôn trọng Thúc sinh, vẫn tỏ lòng thương với con người tuy hèn nhát nhưng tốt bụng.

38) 1796. Sầu dài ngày ngắn, Đông đà sang Xuân – Chỉ thời gian

39) 1924. Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà – Chỉ thời gian

40) 1946. Chúa Xuân để tội một mình cho hoa – Xem 1327

41) 1950. Cát lầm ngọc trắng thiệt đời Xuân xanh – Tuổi Xuân.

42) 2061. Cửa thiền vừa cữ cuối Xuân – Chỉ thời gian

43) 2237. Xót thay huyên cỗi Xuân già – Huyên = mẹ, Xuân = cha.

44) 2288. Chữ tình ngày lại thêm Xuân một ngày – Tình càng ngày càng đẹp

45) 2837. Xuân huyên lo sợ biết bao – xem 2237.

46) 2842. Trai tài gái sắc Xuân đương vừa thì – tuổi Xuân đang đẹp.

47). 2858. Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần – Không gian chuyển vần.

48) 2877. Phòng Xuân trướng rũ hoa đào – phòng ngủ của vợ chồng

49) 3010. Xuân già còn trẻ, Huyên già còn tươi – Xem 2237

50) 3026. Mười phần Xuân có gầy ba bốn phần – Đẹp mười phần thì giảm đi chỉ vài ba phần, ý nói tuy giãi gió dầm mưa suốt 15 năm trời nhưng Thúy Kiều vẫn còn đẹp, vẫn còn Xuân.

51) 3142. Dưới đèn tỏ đạng má đào thêm Xuân – Trê đẹp

52) 3171. Chừng Xuân tơ liễu còn xanh – Còn trẻ

53) 3201. Khúc đâu êm ái Xuân tình – Vui, đẹp

54) 3240. Vườn Xuân một cửa, để bia muôn đời. – Chỉ cảnh gia đình sum vầy hạnh phúc.

Trình độ hiểu biết nhận thức về văn thơ chả được bao nhiêu, nhưng tôi vẫn mê mẩn bởi Truyện Kiều. Lúc rỗi rãi ngồi nhâm nhi mới thấy Truyện Kiều thật đồ sộ, Nguyễn Du đã để lại cho đời một tác phẩm tuyệt vời.

This Post Has 2 Comments

  1. Zulma nói:

    You post very interesting articles here. Your blog deserves much
    bigger audience. It can go viral if you give it initial boost,
    i know useful service that can help you, simply search in google: svetsern traffic tips

  2. phuongxl nói:

    Tác giả quả đã công phu trong việc phân tích chữ Xuân được dùng trong Truyện Kiều. Rất có ý nghĩa trong việc hiểu và nghiên cứu TK trên một bình diện của nội dung và nghệ thuật, là việc nói về vấn đề liên quan đến chữ Xuân. Cảm ơn tác giả.

Leave A Reply