Anh Tôi (6)

Ngày 5/6 (1967), tiểu đội tôi nhận nhiệm vụ hành quân vào bản Bụt chuẩn bị cho trận chiến đấu sắp tới.

10/6 tiểu đội chúng tôi đi về hướng Tây Tà Cơn. đây là lần thứ hai chúng tôi đi nghiên cứu quả đồi này.

Biên chế một tiểu đội, nhưng bây giờ chỉ còn 6 người, đồng chí Yên tổ trưởng đảng lại  mệt, như thế chỉ còn 5 người. Tôi được chi bộ cử lam tổ trưởng đảng thay đồng chí Yên.

12/6 chúng tôi chia thành 2 nhóm :

– Nhóm thứ nhất đi nghiên cứu 622 và 689

– Nhóm thứ hai đi nghiên cứu 845.

Tôi được phân công vào nhóm thứ 2, tức đi nghiên cứu 845.

13/6 chúng tôi bắt đầu triển khai công tác. Trời động mưa nên không khí vô cùng oi bức, chúng tôi phải đi trên các quả đồi lau lách đã bị đốt cháy. Lau lách nằm rạp xuống buộc chúng tôi phải cúi luồn qua hết đám này đến đám khác, ai nấy mồ hôi đầm đìa ướt hết cả áo. Đi đến chân đồi 751 chúng tôi dừng lại đặt vị trí tập kết ở đây.

Đến 5 giờ chiểu chúng tôi bắt đầu xuất phát đi đến 845, đến 8 giờ tối chỉ còn cách căn cứ địch mươi mét nữa. Chúng tôi chuẩn bị tư thế vượt hàng rào dây kẽm gai. Tôi tổ trưởng nên đi giữa, đồng chí Hùng đi trước, đồng chí Ban đi sau. Phân công xong thì trời đổ mưa, trời tối lại mưa, đứng bên cạnh nhau mà vẫn không thấy mặt nhau. Đã thống nhất dùng tín hiệu để liên lạc với nhau nhưng trời tối quá không nghe thấy gì hết, cuối cùng phải gọi to như đi trẩy hội vậy. Chúng tôi lần lượt chui hết lớp rào này đến lớp rào khác. Ở đây Địch mới triển khai nên chỉ có 4 lớp rào đơn giản vì thế chúng tôi nhanh chóng vượt qua. Vừa qua hàng rào cuối cùng, chúng tôi đụng ngay một lô cốt, trên có 2 thằng Mỹ ngồi gác nhưng vì mưa chúng trùm áo mưa nên không thấy gì. Chúng tôi vòng qua lô cốt thâm nhập vào trung tâm. Trời mưa mỗi lúc một to, chúng tôi tha hồ vùng vẫy trong đồn mà bọn địch vẫn không phát hiện được. Cứ như những mũi tên, chúng tôi lao đi trong đêm tối.

Lần trước tôi đã lên trên cao điểm này, nhưng khi đó vì chưa có địch nên đi rất thoải mái. Bây giờ trên cao điểm, vòng ngoài thì hàng rào dây kẽm gai, chông, mìn ; bên trong thì địch đóng chốt cho nên lần này chúng tôi phải thận trọng mới hoàn thành được nhiệm vụ.

Chúng tôi lần mò phát hiện trận địa đê-ca-z cúa chúng. Trận địa có 2 khẩu, Trời mưa nên chúng phủ bạt kín, có 2 thằng khoác ni lông đứng trên canh gác, còn tất cả đều chui xuống hầm và ngủ lăn ra cả.

Điểu tra xong, chúng tôi rút lui trở ra an toàn. Trời vẫn mưa tầm tã. Lúc này trời tối quá, chúng tôi phải nhằm hướng trong địa bàn mà đi. Quần áo ướt sũng, bây giờ anh nào cũng rét run lên. Chúng tôi lần về nơi tập kết, khi gần tới nơi mà vẫn không phát hiện ra chỗ cũ, quanh quẩn mãi cuối cùng đành phải ngồi lại dưới trời mưa. Hai hàm răng của tôi đánh vào nhau cầm cập, tôi cố giữ mà vẫn không được. chẳng phải mình tôi mà tất cả anh em đều thế. Khoảng từ 3 giờ sáng chúng tôi phải ngồi như thế cho đến sáng. Trời vừa tinh mơ chúng tôi lại tiếp tục đi . Nhưng nơi dấu đồ chí cách đó khoảng 10 mét mà thôi. Thật vừa buồn cười lại vừa tức. Lấy đồ đạc xong chúng tôi vội vã trở lại vị trí tập kết đã quy định.

20/6, chúng tôi nhận lệnh đi điều tra 519 gấp, cao điểm này là một chốt tiền tiêu của căn cứ Tà Cơn, tuy nhỏ nhưng rất lợi hại. Tình hình không thuận lợi lắm, hôm nay trăng sáng, chúng tôi vào trong đồn được là vô cùng vất vả và nguy hiểm. Bằng kinh nghiệm trong các lần điều nghiên trước, cộng thêm kỹ chiến thuật được huấn luyện nên chúng tôi vẫn thâm nhập mục tiêu một cách dễ dàng.

25/6, chúng tôi chuẩn bị đánh 519. Cả tiểu đội, ai nấy đều vội vả, nào bộc phá, nào lương khô phải khẩn trương chuẩn bị.

26/6, khởi hành vào vị trí tập kết ở chân đồi 751, chúng tôi định ngày 30/6 sẽ đột nhập. Nhưng hôm nay lỡ kế hoạch đã định, địch kéo ra đông quá, chúng vây cả cao đểm 519, các đường đi lối lại lên 519 đều có địch chốt giữ.

Trước tình hình ấy, chúng tôi điện về xin ý kiến cấp trên. Do tình hình không thuận lợi, không đảm bảo chắc thắng nên cấp trên đã lệnh cho chúng tôi ngừng tập kích, đồng thời trở ra đi về hướng đông Tà Cơn.

5/7 (1967), chúng tôi làm lễ truy điệu đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

10/7 chúng tôi hành quân trở về 1001, sau đó theo con đường chúng tôi đi lên trước trở về dốc 3 đỉnh mà quân giải phóng thường gọi là đốc bà Định, dốc vừa cao vừa dài lại dốc, phải cần tới 2 ngày mới vượt qua được dốc.

21/7, chúng tôi được lệnh xuất kích đánh địch.

Lần này chúng tôi cử tổ 6 người phối hợp với bộ binh để bắt tù binh. Trong đòan, tôi làm tổ trưởng đảng, đồng chí Chiếm làm phân đòan trưởng. Chúng tôi nằm phục kích dọc đường 9. Công lao chờ đợi từ mờ sáng đến 1 giờ chiều nhưng vì bị lộ ở đơn vị bộ binh, thế là chúng tôi phải đội pháo và bom. Công lao bàn tính bấy lâu, hôm nay thế là sai kế hoạch, chẳng những thế mà suýt nữa còn toi mạng vì bom và pháo kích của địch.

10-8, chúng tôi đi nghiên cứu đoạn đường Tân Lâm đi 41, đường này sát một bên đồn địch.

21-8, chúng tôi chuẩn bị phục kích bắt tù binh một lần nữa.Lần này khác với lần trước, con số vẫn 6 người nhưng có tới 4 đảng viên, chỉ còn 2 đòan viên. Quyết tâm sắt đá của tổ là nếu lần này chưa bắt được tù binh chưa trở về. Lần này tôi làm tổ trưởng đảng. Tôi hạ quyết tâm với chi bộ, dù giá nào chúng tôi phải quyết tâm bắt được tù binh.

Chúng tôi chuẩn bị tinh thần và vũ khí, thức ăn rồi khởi hành. Tôi, anh Thái và anh Mật một tổ ; anh Vân và bé Sang một tổ. Sang còn trẻ tuổi, tính tình vui vẻ nên anh em đồng đội thường gọi là bé Sang. Mỗi người chọn một bụi lách ngồi thu mình như con cọp rình mồi. Trời về trưa nắng càng gay gắt, đứa nào cũng mỏi lòng chờ đợi. Trên đường 9 người đi lại tấp nập. Chúng tôi sợ bị lộ sẽ gặp nguy, vì chúng tôi ngồi phục cách đường chỉ khoảng 3 mét. Đã 9 giờ mà vẫn không có đòan xe nào, cũng không có toán lính Mỹ nào đi qua, chỉ chốc chốc lại có một vài tên lính Cộng Hòa nghênh ngang đi qua.

11 giờ, trời nắng gay gắt mà vẫn yên ắng, tôi mở gói lương khô ra ăn vì từ tối qua đến giờ chưa có miếng gì trong bụng. Vừa ăn được mấy miếng thì nghe trên đài báo xuống có 3 chiếc xe chở vũ khí và lính từ Tân Lâm lên 41. Tôi hồi hộp quá, vội gói lương khô lại và báo hiệu với tổ chuẩn bị. Một tiếng nổ vang trời, tất cả lao tới 3 chiếc xe. Lính trên xe hốt hoảng nhảy xuống. Nhanh như cắt anh nào cũng bắn và lao thẳng lên xe đốt phá. Bọn Mỹ nhảy xuống còn lúng túng. Một thằng lao đến chỗ tôi, nó định đánh vật với tôi, tôi liền đưa miếng nhà nghề học bấy lâu nay nện cho nó một cú thế là nó quỵ ra. Tôi bảo bé Sang trói nó lại. Tôi chạy tới gầm xe, gặp một thằng còn nằm ở đấy, không biết làm cách nào, sẵn khẩu súng tôi quạt một điểm xạ, thế là nó đi đời.

Sau đó tôi chạy đến chỗ anh Vân, thấy anh Vân còn vật nhau với một thằng Mỹ to lớn. Nó nằm trên anh, hai người giằng co nhau không phân thắng bại. Trái tim tôi lúc đó còn đang nóng bỏng nỗi căm thù chất sẵn, tôi giáng vào đầu nó một báng súng. Tưởng nó chỉ ngất nhưng khi vật nó lại thì nó đã chết, tôi bồi thêm cho nó một báng súng nữa. Anh Vân đứng dậy nhìn tôi rồi nhìn nó, nửa mừng nhưng nửa tiếc. Anh nói với tôi, mình định bắt sống chứ giết nó thì mình giết được rồi.

Tan trận, chúng tôi giải tên tù binh nhanh chóng rút khỏi trận địa. Nhưng tiếng không biết để ra lệnh cho nó đi. Nghĩ mãi tôi mới nhớ ra được 2 tiếng go quých (going) thế là cả tổ ai cũng quát go quých. Thằng Mỹ sợ sệt bước liên tục. Bấy giờ pháo của địch bắt đầu câu lên như sấm rền, chúng tôi nói vui là pháo bắn liên thanh.

RỜI TRẬN ĐỊA

Chào các đồng chí thân yêu yên nghỉ,
Chúng tôi rời trận địa đêm nay,
Mang mối căm hờn chồng chất tận trời mây
Để nung nấu cho ngày mai chiến thắng.
Rời trận địa đêm nay có trời cao yên lặng
Chúng tôi đi trong gió lay buồn,
Tôi cố ngăn dòng nước mắt trào tuôn,
Khi vĩnh biệt những người đã khuất.
Máu đọng lại trên vành môi cắn chặt
Của chúng tôi những người sáng hôm nay,
Quyết ra đi trả mối thù này.
Các đồng chí thân yêu không còn sống nữa,
Lửa gọi lửa, đất trời này rực lửa,
Đồng chí ơi, lửa cháy ở tim ta,
Lửa của triệu con người nợ nước thù nhà.
Các đồng chí thân yêu chiều nay ngã xuống.
Góp máu xương cho đấu tranh cách mạng
Giữ sống còn cho Tổ Quốc mai sau.
Giờ ra đi tim thắt lại quặn đau,
Bao trí lực dồn vào cánh tay và khối óc,
Của chúng tôi những người không biết khóc,
Chỉ ngẩng cao đầu mắt đỏ hờn căm.
Trận địa bên kia nơi các anh nằm
Hương cỏ nội đồng xanh ngào ngạt.
Mùi vị quê hương bay lên từ lòng đất,
Ôm các anh ru nhè nhẹ tháng ngày,
Như mẹ hiền ôm giấc ngủ con say.
Các anh nằm đây giữa lòng dân rộng lớn,
Bên những mẹ cha nắng mưa chiều sớm,
Chăm bón ruộng đồng xanh mãi giấc các anh mơ,
Máu các anh tô thắm màu cờ.
Các anh ơi chúng tôi rời trận địa,
Chào các anh ở lại chúng tôi đi,
Phần làm dở chúng tôi xin làm cả,
Mối thù này ghi xương quyết trả,
Mỗi chuyến ra đi là trăm xác quân thù.

Khe Sanh, 21.8.1967

Ngày hôm sau, 22/8 địch bắt đầu đổ quân xuống mấy quả đồi xung quanh khu vực bị chúng tôi tập kích trưa qua. Địch sử dụng lực lượng tương đối mạnh. Chúng tôi trở lại vị trí tập kết nghỉ được một buổi, sang ngày hôm sau lại lên đài quan sát. Thấy địch nống ra mạnh quá, chúng tôi xin ý kiến trên cho đánh.

Tối 24/8 chúng tôi lại đánh tập kích. Tổ tôi lần mò đến chỉ huy sở cúa địch. Anh Mật vật lộn với một thằng Mỹ vừa trong hầm chui ra. Anh Thái chạy đến trói ghì nó lại, chúng tôi giải nó đi. Trời tối lại phải đi trong rừng rậm, pháo nó bắn cấp tập, máy bay ném bom giữ dội. Trong tình hình như vậy chúng tôi bàn định phải khử thằng Mỹ mới ra khỏi nơi này. Bàn là thế, nhưng không anh nào dũng cảm quay súng bắn lại nó khi nó đã bị trói hai tay quặt sau lưng. Tôi nghĩ, đêm tối thằng Mỹ không thể nhìn thấy thái độ của chúng tôi đối với nó nên có thể nó không sợ chúng tôi, nhưng chắc chắn nó sợ bom và đại bác của chính đồng đội nó đang săn lùng chúng tôi, trong đó có nó. Chần chừ một lát, chúng tôi quyết định bỏ thằng Mỹ lại mà không cởi trói cho nó, để cho số phận quyết định sự sống hay chết của nó. Sau khi bỏ thằng Mỹ ở lại, chúng tôi cắt rừng, nhanh chóng thoát ra khỏi khu vực địch pháo kích an toàn. Quyết định không thủ tiêu thằng Mỹ được mấy anh em giữ kín. Tôi thì cứ phân vân mãi. Không biết số phận thằng Mỹ thế nào, có thóat khỏi những loạt bom và pháo bầy cúa chúng hay không ? Mặt khác nếu anh nào để lộ thông tin về việc bỏ mặc thằng Mỹ trong rừng thì tất cả phải làm kiểm điểm là điều chắc chắn. Nghe nói bắt được một thằng Mỹ, sau này đổi được cả một nhà máy cơ mà.

Ngày 10/9, chúng tôi chuẩn bị đánh đồi 1009 (Động Tri), một cao điểm lợi hại của Tà Cơn nống ra. Cách đây hai tháng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu 1009, tuy nhiên sau hai tháng tình hình đã thay đổi nhiều, buộc chúng tôi phải điều nghiên lại trước khi tấn công. Lần này, chúng tôi phối hợp với đặc công cúa đòan Nhật Lệ, lực lượng gồm 2 tổ đặc công, 1 tổ trinh sát của chúng tôi và 1 trung đội bộ binh.

Ngày 20/9 chúng tôi nghiên cứu sa bàn, lựa chọn cách tấn công hiệu quả nhất.

Phương án I : Đánh vào lô cốt chính rồi từ đó đánh ra tứ phía. Nếu thắng thì không hủy pháo mà chiếm lĩnh đồn, chờ tiêu diệt quân tiếp viện từ Tà Cơn xuống. Tổ chúng tôi sẽ giữ trận địa pháo, nếu chiếm được sẽ bắn cầm canh nghi binh địch.

Phương án II : Nếu vào đến hàng rào thứ 2 – 3 mà bị lộ thì vừa đánh vừa tấn công vào.

Phương án III : Nếu bị lộ ngay từ ngoài hàng rào sẽ rút ra, không đánh nữa.

25-9 chúng tôi bắt đầu khởi hành nhiệm vụ. Vào cách đồn khoảng 1 km chúng tôi dừng lại, cử cán bộ vào nghiên cứu lần nữa. Vừa vào đến hàng rào thứ II, đồng chí tham mưu trưởng vấp phải quả mìn sáng, thế là pháo từ Tà Cơn bắn lên như mưa, kết hợp súng trong đồn bắn ra xối xả. Chúng tôi nằm chết dí một chỗ hơn một giờ đồng hồ, khi ngớt tiếng pháo mới ngóc đầu dậy được.

Trước tình hình trên, chúng tôi bàn định ngay bên hàng rào là nên tiếp tục đánh hay rút ra. Cuối cùng chúng tôi quyết định trở ra.

27-9 chúng tôi trở lại vị trí tập kết. Trời mưa tầm tã, khe suối nước chảy cuồn cuộn. Qua những ngày tháng sống trong trạng thái bom rơi đạn nổ, đầu óc căng thẳng, mỗi người ai cũng mệt rũ rượi.

30-9 chúng tôi nhận được lệnh trở ra làng Cát nghỉ ngơi. Nơi này cách đây không lâu chúng tôi đã nghỉ hơn một tháng, hôm nay lại chuẩn bị tới đó.

2-10 – 1967, chúng tôi sống dưới chân lèn đá làng Cát, ngày ngày tiếp tục đi hái rau, tát cá ăn chơi và tổng kết chiến dịch. Lại một dịp tha hồ ăn cá.

20-10 tôi lại đi với đồng chí Dánh về nam đường 9.

25-10, tôi và đồng chí Dánh, đồng chí Lực đi dự đại hội ngành ở mặt trận.

Lần này tôi có dịp gặp người cùng làng. Thật tình cờ, tôi gặp anh Quang đi dân công. Ba năm không biết tin tức quê hương, hôm nay tôi mới nghe anh Quang kể lại. Tôi lại gặp Bích, Dũng, Duy, Toàn và nhiều anh em trong xã nữa, những người này mới nhập ngũ mà đã vào tới đây. Tôi ra đây dự đại hội và được nghỉ 10 ngày.

10-11 chúng tôi lại trở vào.

15-11, chúng tôi nhận được lệnh của mặt trận đi nghiên cứu Tà Cơn chuẩn bị cho chiến dịch.

ĐÔI MẮT

Trên chặng đường kháng chiến
Tôi gặp em cô gái đồng quê
Những sớm trưa em vác cuốc đi về
Tôi ngắm em cho tim mình thổn thức
Trong đêm khuya những giờ thay trực
Nhớ tới em đôi mắt đẹp vô ngần
Trải nắng bao la lộng lẫy hương xuân
Và thu cả trời mây sông núi.
Em tặng cho tôi những sớm trưa chiều tối
Vinh dự bao nhiêu em giữ trọn niềm tin.

Tôi muốn gửi tim mình vào đôi mắt ấy
Trên chặng đường kháng chiến ấm tình thương.
Tôi lại đi trên khắp nẻo đường.
Tạm biệt nhé em, ơi đôi mát đẹp,
Rực sáng niềm tin sáng ngời ánh thép,
Chất thép tâm hồn – đôi mắt long lanh.
Trong mắt em xuân nẩy lộc đâm cành.

Quảng Điền, 19.11.67

20-11 chúng tôi chuẩn bị lương thực .

1-12 bắt đầu khởi hành. Lần này chúng tôi nghiên cứu phía đông Tà Cơn, đi vào sân bay. Ngày đêm ẩn mình trong hàng rào để nắm tình hình hoạt động của địch.

NHỚ

Đồng quê ơi đồng quê,
Nhớ từng đường cày hằn lên đất mới,
Nhớ những buổi chiều râm ran tiếng gọi
Buổi tan đồng, ôi nhớ biết bao nhiêu.

Càng nhớ em bóng dáng thương yêu,
Sau buổi tan đồng trên vai gánh nặng.
Em ơi giữa màu xanh xôn xao chiều nhạt nắng
Phảng phất hương đồng, bay mái tóc xanh.
Từ buổi đầu gửi thương nhớ cho anh.
Đồng quê ơi đồng quê,
Lại nhớ em trong những ngày đi chiến đấu,
Nghe bâng khuâng buổi đầu tiên dồn máu,
Sưởi ấm tâm hồn trỗi dậy giữa mùa xuân,
Trên đồng quê náo nức vạn đôi chân,
Bên trận địa súng vươn nòng chờ giặc,
Mùa xuân ấy một mùa xuân đẹp nhất.
Của đơi anh với cô gái yêu thương.
Biết không em
Kỷ niệm một chặng đường
Ta đã yêu nhau, em ơi từ buổi ấy.
Ta thấy lòng ta như nắng xuân bừng dậy
Nhuốm biếc màu xanh, tốt lắm vạn cánh hoa.
Nhớ thương em từ buổi ấy đi xa.
Hạnh phúc em ơi, trên đầu còn bóng giặc,
Chưa vẹn tròn nên anh phải xa em,
Đi khắp nẻo đường gian khổ ngày đêm
Chắc tay súng giữ bao lời ước hẹn
Cho ngày mai giữa mùa về lúa chín
Anh sẻ về gặt hái bên em
Hạnh phúc
Hòa bình
Giữa sức sống đang lên.
Chưa hết giặc anh còn đi em nhé.

Nhớ thương em chỉ biết mong em khỏe,
Góp sức mình vào sự nghiệp quang vinh
Anh sẻ về
Ngày ấy hết chiến tranh.

Thừa Thiên, 5.12.1967

22-12 chúng tôi ăn ngày Tết quân đội ngay bên Rào Quán. Hôm ấy chúng tôi định làm bánh nhưng không thành, nên cuối cùng phải nấu cháo.

28-12 chúng tôi nhận lệnh rút về Saki để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.

Ghi chú :

Phần này anh Hoành tiếp tục ghi chép phản ánh các hoạt động của anh và đồng đội trên chiến trường Khe Sanh, tuy nhiên nhịp độ ngày một căng thẳng hơn, ác liệt hơn.

Anh đề cập đến một lần đi dự hội nghị ở mặt trận, tại đây anh gặp rất nhiều người cùng xả. Về sự kiện này, nhật ký anh ghi không rõ. Theo như anh kể thì, sau khi tiểu đội của anh diệt được 2 tên Mỹ và bắt sống được một tên, với thành tích ấy anh được đại diện cho anh em trong tiểu đội về dự đại hội chiến sĩ thi đua mặt trận Trị – Thiên. Hội nghị tổ chức tại Quảng Bình chứ không phải ở mặt trận như anh viết. Một điều nữa là, anh về báo cáo thành tích chứ không phải chỉ dự đại hội.

Từ khi người Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, lực lượng lớn, vũ khí trang bị hiện đại, tối tân nhất thế giới lại được sự yểm trợ không hạn chế của không quân, hải quân và pháo tầm xa, tình hình đó gây cho phía ta rất lúng túng. Làm thế nào để tiêu diệt được quân Mỹ ? Đó là câu hỏi không dễ trả lời. Bấy giờ trên các mặt trận dấy lên phong trào hiến kế tìm cách diệt Mỹ. Trong ghi chép của anh phản ánh phần nào phong trào đó. Hình như hễ người nào tiêu diệt được 1 tên Mỹ đã được tặng danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Đại hội thi đua là một hình thức vừa biểu dương khen thưởng những đơn vị cá nhân có nhiều thành tích trong chiến đấu, đồng thời phố biến rộng rãi kinh nghiệm chiến đấu, tiêu diệt quân thù trong toàn quân nhằm dấy lên phong trào thi đua sôi nổi tiến lên giành thắng lợi từng phần đến thắng lợi hoàn toàn.

Về mấy người anh gặp trong dịp ấy là : Anh Quang, tức Quang Nghĩa người làng Đông là dân công hỏa tuyến chứ không phải đi bộ đội ; anh Bích con ông Thông làng Phan, sau này anh hy sinh ; anh Dũng, con ông Dụng, người làng Phan, sau khi anh Dũng đi bộ đội cả nhà chuyển xuống làng Đông, sau đó anh Dũng hy sinh ; Anh Duy con ông Duy người làng Phan, anh Duy sau bị thương, hiện anh là thương binh đang sống tại làng Phan ; anh Toàn con ông Tương, người làng Phan sau đó cũng hy sinh.

Nhật ký của anh tạm dừng vào ngày 28/12/1967. Một điều cần chú ý : suốt 2 năm, anh Hoành hoạt động tại mặt trận đường 9 – Khe Sanh. Như sau này ta biết, chiến dịch lớn giải phóng đường 9 – Khe Sanh mở màn bằng cuộc tiến công căn cứ Làng Vây vào rạng sáng ngày 20/1/1968. Vậy, tại sao một đơn vị hoạt động liên tục tại mặt trận trong 2 năm mà trước giờ nổ súng mở màn chiến dịch lại được điều đi nhận nhiệm vụ mới ? Thì ra, không lâu sau đó, gần một tháng sau, chiến dịch Mậu Thân Tổng tấn công và nổi dậy mở màn. Anh Hoành điều chuyển cấp tốc về mặt trận Thừa Thiên – Huế và sau đó trực tiếp tham gia chiến dịch Mậu Thân.

online jobs

(Còn nữa)