Anh tôi (5)

Nổ súng

mobile spy software for iphone

Ngày 13/4 (1967) có lệnh cử tôi và đồng chí Thái đi cùng với đồng chí Kính phụ trách mặt trận đi về phía Làng Vây. Chúng tôi vội vã chuẩn bị tư trang đi ngay cho kịp vì nhiệm vụ quá gấp. Bao khó khăn xuất hiện chồng chất trước mặt, nhưng rồi cuối cùng chúng phải lùi về phía sau, để lại cho chúng tôi sự rắn rỏi, kiên cường, cứng cáp nhiều hơn.

18/4 chúng tôi vào nghiên cứu đồn Làng Vây. Lần này có đồng chí Kính đi cùng nên chúng tôi thêm phấn khởi, tinh thần thêm hăng hái.

Mọi khó khăn lần lượt trải qua, bây giờ đã đến hàng rào thứ nhất, mọi người ai cũng tỏ ra hồi hộp. Trên các lô cốt những tên địch còn ngồi canh gác. Chúng buồn mồm nên cứ cất tiếng hát nghêu ngao. Chúng tôi bí mật chui qua các lớp rào dây kẽm gai. Thỉnh thoảng những ngọn đèn pha của bọn lính quét vòng quanh, miệng chúng la hét vu vơ : Ê, Việt cộng ! Việt cộng ! Nhanh dậy lại quy hàng đi.

Chúng tôi ním im mỉm cười chế diễu. Đèn pha tắt, chúng tôi tiếp tục bò vào. Giống như trò chơi ú tim, bọn địch ngồi trên lô cốt hút thuốc, hát nghêu ngao ; chúng tôi thì bò ở dưới, rồi lén vào khu nhà ở. Tôi lẻn vào nhà ăn của chúng. Ôi, thịt nhiều quá, chúng đã chuẩn bị cho bữa sáng. Tôi định ngồi ăn một ít cho đỡ đói, nhưng nghĩ kế hoạch còn to lớn, không thể liều lĩnh được, nếu bị l? thì vô cùng nguy hiểm.

Xong công việc chúng tôi rút khỏi Làng Vây an toàn ngay trong đêm. Về đên vị trí tập kết chúng tôi được biết ở cao điểm 832 và 845 đã nổ súng, cà ngày đánh đến 8 trận. Nỗi mừng vui của chúng tôi không gì tả hết được.

3/5, bắt đầu nổ súng đánh Làng Vây. Ở đây chúng tôi đánh bằng chiến thuật đặc công nên chỉ cần một trung đội bộ binh làm thê đội 2.

Tôi và Thái được trên giao phụ trách mũi đặc công tiền nhập vào. Tôi rất hồi hộp và lo lắng, đây là lần đầu tiên tôi phụ trách một mũi tiến công.

Kế hoạch định xong, chúng tôi tiến hành. Mỗi người mang theo 15 quả bộc phá 4 lạng, còn tôi 10 quả và 1 khẩu súng, người trước theo người sau bí mật đi vào.

Ngày trước còn bé chúng tôi đã rình mò trong đêm tối, nhưng thời ấy là đánh trận giả mà thôi, còn bây giờ là trận đánh thực sự, biết bao hiểm nguy đang chờ chúng tôi phía trước.

Trời tối, chúng tôi phải bám sát nhau cho khỏi lạc đường. Khó khăn nhất là tôi mới vào trinh sát được một lần, bây giờ phải dẫn anh em thâm nhập trong điều kiện nắm chưa vững địa hình quả thật tôi hơi lúng túng. Tôi cố nhớ lại những vật chuẩn lần trước đã đánh dấu ghi nhớ. Chúng tôi lần mò từng bước, cố gắng không tạo ra tiếng động. Khi chúng tôi tiếp cận cách đồn khoảng 400 m, bất ngờ bọn lính trong đồn bắn pháo sáng sáng trưng, tiếp theo là các cỡ súng bắt đầu nhả đạn. Đạn địch bay vèo vèo trên đầu, pháo sáng rơi sáng rực. Chúng tôi hóa trang rồi mà vẫn thấy rõ mặt nhau. Tôi lo lắng quá, tưởng đã bị lộ ; nhưng không, thấy các đường đạn phân tán, chúng tôi tin là địch chưa phát hiện được. Nhưng tại sao chúng bắn nhiều thế ? Tôi lo lắng cho hai mũi tiến công khác, có thể họ đã bị lộ, nếu vậy thì mọi việc hỏng bét và có thể không còn đường rút về điểm tập kết nữa (khi gần vào đến nơi chúng tôi chia thành 3 mũi). Tôi ra hiệu cho anh em dừng lại và bào đồng chí điện đài liên lạc với 2 mũi kia. May quá, mọi chuyện vẫn đang ổn, bọn địch rọi đèn pha và bắn cầm canh vu vơ. Chúng chưa phát hiện ra chúng tôi. Thật lạ, những đêm trước chúng không bắn cầm canh như thế. Chúng tôi phải nằm chờ để chúng bắn và la hét cho xong.

Lúc chia thành 3 mũi để đột nhập vào đồn chúng tôi hiệp đồng đúng 2 giờ sáng nổ súng. Nhưng do có loạt pháo sáng và từng loạt súng liên thanh bắn ra làm chậm tốc độ thâm nhập nên buộc chúng tôi phải thay đổi giờ khai hỏa, nổ súng lúc 3 giờ sáng.

Rất thuận lợi, chúng tôi tiền nhập an toàn. Vào tới vị trí, tôi phân công cụ thể nhiệm vụ của từng người.

Đúng 3 giờ, tôi phụ trách đánh vào nhà thông tin. 7 cân bộc phá nổ và lấy đo làm bộc phá lệnh cho toàn đơn vị. Một tiếng nổ vang như bom, rồi sau đó bộc phá nổ liên hồi. Chúng tôi chạy ngang chạy dọc như những mũi tên, đánh vào hầm ngầm, đánh vào lô cốt. Bên ngoài, bộ binh phá hàng rào ồ ạt xông vào. Bị bất ngờ, địch trong đồn hốt hoảng không bắn trả được viên đạn nào. Chúng tôi lao từ nhà này sang nhà khác. Tôi nhớ nhất là tôi và đồng chí Thái đã giết 2 tên địch khi chúng đã giơ tay hàng. Tôi thương chúng quá, nhưng không biết làm sao, chúng là kẻ thù, không thể tha khi dòng máu trong chúng tôi còn sôi sục. Vả lại, bắt chúng đi theo thì không được, chúng tôi còn phải tìm hướng rút lui, chắc gì đã an toàn ; tha chúng thì rất có thể chúng sẽ cầm súng bắn lại chúng tôi ; không còn cách xử lý nào khác !

Đồn làng Vây giờ đây chỉ còn tro tàn và xác chết. Làm chủ đồn khoảng 2 tiếng đồng hồ, trời tờ mờ sáng chúng tôi bắt đầu rút. Trên trời máy bay bay rè rè tìm kiếm mục tiêu, chúng đã phát hiện ra đường rút cúa chúng tôi. Pháo của địch bắt đầu bắn cấp tập, pháo từ Tà Cơn bắn lên chi viện cũng vô hiệu quả. Chúng bắn vu vơ, còn chúng tôi thì cứ theo đường 9 mà chạy. Tôi là người đi sau cùng của nhóm. Đồng chí Thuận không may bị mảnh pháo găm vào hông phải nằm lại dọc đường không đi được. Không có cáng, anh em đã rút hết, chỉ còn lại mình tôi, buộc lòng tôi phải cõng Thuận rút lui khoảng 3 cây số mới đuổi kịp anh em, bấy giờ mới có cáng để thay nhau khiêng Thuận. Người tôi ướt đầm máu bạn, nhưng tôi rất vui khi đưa người đồng chí của mình rút lui an toàn.

4/5 chúng tôi rút ra vị trí tập kết. Tôi được biết hướng 832 và 845 cũng đã rút ra để củng cố lực lượng. Tôi cũng nóng lòng, mong sao sớm được gặp anh em trong tiểu đội.

7/5 chúng tôi lại hành quân trở về đơn vị cũ. Mới gần 1 tháng xa tiểu đội mà tôi nhớ lam sao, mong cho mau về tới đích.

TỔ BA NGƯỜI

Ta về đây ơi người đồng chí

Gắn bó cùng nhau trên đường đi đánh Mỹ,

Cùng chung những phút vui riêng

Gửi cho nhau tất cả niềm tin,

Cay đắng, ngọt bùi cùng chia sẻ.

Đọc cho nhau nghe lá thư gửi từ quê mẹ,

Chuyện làm ăn nay khá hơn nhiều.

Ba đứa cùng cười càng thêm mến thêm yêu

Càng gắn chặt mối tình chiến đấu.

 

Ba trái tim chảy cùng dòng máu,

Quyện hòa nhịp đập với non sông.

Tổ quốc Việt Nam – Dân tộc anh hùng

Ta tự hào, vì ta là người tiếp bước.

Ôm chặt lòng nhau những đêm giá buốt,

Truyền cho nhau hơi ấm, tình thương,

Thủ thỉ tâm tình những chuyện quê hương

To nhỏ với nhau sửa từng thiếu sót.

Chỉ vẽ cho nhau qua từng ngày một,

Càng hiểu nhau thêm, tươi mới nụ cười.

 

Anh nhà nghèo quê ở miền xuôi

Nơi sóng biển thì thầm ru từ thuở nhỏ.

Quê hương gọi, bao niềm thương nỗi nhớ.

Mỗi bước đi, mỗi bước lớn khôn hơn.

 

Bạn ở tận núi rừng, nơi phát rẫy làm nương.

Có tiếng khèn tha thiết nỗi yêu thương,

Có con suối, có chim chiều gọi tổ,

Gắn bó cùng anh, nâng niu từ thuở nhỏ.

 

Tôi ở nơi đồng quê trồng lúa,

Có cánh đồng thẳng cánh cò bay,

Có con thuyền chở đầy câu hò ví dặm.

Hai tiếng Quê hương nghe sao tha thiết lắm.

 

Nhưng bọn Mỹ kia giở thói cuồng điên

Hòng cướp đi cuộc sống bình yên,

Của bao bà mẹ và các em thơ nhỏ dại.

Ta họp lại đây, cùng nhau giành lại.

Chưa hết Mỹ, ta còn đi, còn đánh mãi

Ta càng yêu càng quý nhau hơn.

Khe Sanh, 7.5.1967

Ngày 10/5 tôi gặp lại đơn vị. Kiểm điểm lại, tiểu đội có 9 người trong đó bị mất tích 1 người, đồng chí Biền vui tính hy sinh, bị thương một người, chỉ còn lại 6 người có thể tiếp tục sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 12/5, đồng chí Thuận gần khỏi vết thương, đã trở lại cùng chúng tôi. Những ngày ở cùng đơn vì là những ngày nhàn rỗi, chúng tôi nghỉ ngơi và tiếp tục hái rau, tát cá cải thiện bữa ăn ; học tập, củng cố lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng cho những trận đánh mới.

VƯỢT VÒNG VÂY

Dãy Trường Sơn vẫn âm u quạnh quẽ

Như cuộc đời chồng chất nỗi đau,

Chiều nay chúng tôi chôn đồng chí,

Trên đồi cao mây trắng vắt qua cành.

Vòng vây thù còn xiết chặt dưới chân

Rồi mấy đứa băng mình vào đêm tối.

Thép súng lạnh trong bàn tay nóng hổi

Quyết vượt vòng vây về với đồng bào.

Trên trời chỉ một vì sao

Nhằm thẳng hướng cho chúng tôi đi tới

Áo rách lưng trần chúng tôi đi.

 Khe Sanh, 17.5.1967

SAO

Đêm nay trên trời cao

 Những vì sao lấp lánh

 Còn phảng phất trong lòng tôi hơi lạnh.

Nhưng kia rồi sức ấm đã tràn lên.

 Những vì sao trong đêm

Trông mà xinh mà đẹp.

 18.5.1967

 

Vài lời giải thích thêm :

Phần này, anh Hoành đề cập đến một cứ điểm quan trọng nữa trong hệ thống phòng ngự đường 9 – Khe Sanh của địch là Làng Vây.

Đến thời điểm đầu năm 1968, Làng Vây là một căn cứ án ngữ cửa ngõ khu trung tâm Tà Cơn, đồng thời là tiền tiêu phía Tây – Nam của tuyến phòng thủ đường 9 – Khe Sanh. Căn cứ Làng Vây được xây dựng trên hai cao điểm 320 và 230, chiều dài 600 m và chiều rộng 200 m, có nhiều hầm hào và công sự kiên cố với các điểm hoả lực rất mạnh, kể cả các trận địa pháo 105 mm, cối 106,7 mm ; bao bọc xung quanh bằng những lớp hàng rào dây kẽm gai chồng chất, dưới chân đồi có các bãi mìn lớn với tầm sát thương và hủy diệt cao. Chốt giữ ở đây là những lực lượng đặc biệt của Mỹ – ngụy gồm 6 đại đội, có 30 cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Xuất phát từ vị trí chiến lược, Làng Vây được mệnh danh là cái cuống họng, một chân kiềng của hệ thống phòng ngự Khe Sanh.

Tuy nhiên, thời điểm đơn vị anh Hoành tiến đánh đồn Làng Vây (đầu tháng 5/1967) bấy giờ căn cứ Làng Vây chưa được xây dựng kiên cố nên việc đột nhập vào Làng Vây đơn giản hơn.

 

Sơ đồ vị trí Làng Vây trong hệ thống phòng thủ đường 9 – Khe Sanh.                          (Ảnh Du lịch Quảng Trị)

Nhìn trên sơ đồ ta thấy rõ hai vị trí Làng Vây Cũ và Làng Vây Mới. Làng Vây Cũ là nơi xẩy ra trận đánh ngày 3/5/1967 có anh Hoành tham gia. Làng Vây Mới là nơi xẩy ra trận đánh ngày 20/1/1968 mở màn chiến dịch đường 9 – Khe Sanh. Anh Hoành không tham gia trận đánh này vì trước đó, ngày 5/1/1968 đơn vị anh được điều chuyển vào mặt trận Thừa Thiên – Huế, chuẩn bị cho tổng công kích Tết Mậu Thân 1968.

Để những người trẻ tuổi ngày nay có thể hiểu, tại sao đánh xong ta không giữ mà lại rút lui ? Tôi xin khái quát mấy nét chính như sau :

– Khi quân Mỹ và chư hầu ồ ạt vào miền Nam từ đầu năm 1965, tương quan lực lượng giữa ta và địch vô cùng chênh lệch, đặc biệt về trang bị vũ khí. Phía địch có uy lực vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, pháo hạng nặng, bom, mìn v.v…  Về phía ta chủ yếu là súng bộ binh. Tương quan lực lượng như thế, nếu chọn phương án đối đầu thì quân ta không thể đứng vững được. Vì vậy chiến thuật của ta thời kỳ ấy là đánh du kích, đột nhập đánh xong rồi rút, nhằm tiêu hao sinh lực địch chứ chưa phải đánh tiêu diệt, đánh để giữ đất, giành giật địa bàn. Nếu ta giữ trận địa vừa chiếm xong sẽ bị quân Mỹ dùng máy bay ném bom và pháo hạng nặng đánh hủy diệt ngay.

– Cũng như Tà Cơn, ngày nay báo chí, tài liệu nói nhiều đến chiến dịch đường 9 – Khe Sanh, trong đó Làng Vây được nhắc đến là trận mở màn chiến dịch. Tuy nhiên đây là chiến dịch đầu năm 1968, thế và lực của ta đã mạnh, cho phép đương đầu với địch, vì vậy quân đội ta chuyển sang tấn công nhằm đưa cục diện chiên tranh chuyển sang thời kỳ mới có lợi cho ta cả về chiến thuật lẫn chiến lược.

– Thời kỳ tháng 5/1967 đơn vị anh Hoành đánh đồn Làng Vây thì tài liệu lịch sử không nhắc đến. Không nhắc đến, có lẽ vì quy mô trận đánh nhỏ, như anh Hoành kể, ta sử dụng một trung đội đánh đặc công. Tôi không rõ đã có tài liệu nào nói về trận đánh này chưa, trong “Quân sử Việt Nam” không đề cập đến trận đánh này. Nhưng anh Hoành đã ghi lại thì đây là trận đánh có thật, là trận đầu tiên anh Hoành cùng đồng đội nổ súng tiêu diệt quân thù kể từ ngày đi bộ đội. Tôi tin, với đặc điểm quan trọng ấy, chắc chắn anh Hoành nhớ rõ và chính xác. Dù Quân sử không ghi chép, thì trận đánh đồn Làng Vây ngày 3/5/1967 vẫn in mãi trong tim những người trực tiếp chỉ đạo và tham gia trận đánh ấy, trong đó có anh Hoành.

(Còn nữa)