Anh tôi (4)

anh-tôi-3

Trở lại chiến trường

Tôi không ngờ chúng tôi được hưởng một cái Tết (Đinh Mùi) cùng với nhân dân miền Bắc. Mồng một Tết chúng tôi cùng đồng bào chào cờ rồi liên hoan vui vẻ. Lần đầu tiên ăn Tết với nhân dân, tuy giản dị không mâm cao cỗ đầy nhưng tình nghĩa quân dân ấm cúng làm sao. Mới sáng tinh mơ tiếng chim đã hót líu lo trên cành, những nàng bướm đã nhởn nhơ đi hút nhị. Đầu Xuân, trăm hoa đua nhau khoe sắc, cùng hưởng không khí mát dịu trong lành của thiên nhiên.

Ngày 4 tháng Giêng (12-2-1967) chúng tôi có lệnh khẩn trương trở lại chiến trường.

Lần thứ 2 tôi sống với núi rừng Quảng Trị. Trời vẫn âm u, nhưng mưa đã bớt dần. Những loạt bom B52 bây giờ cũng thưa thớt, không còn nhiều quả bom độc ác rơi xuống những quả đồi vô tội. Nhưng máy bay trinh sát L19 thì liên tục thay phiên nhau bay lượn, khi phát hiện được bất cứ một chuyển động nào lập tức chúng ném lựu đạn mờ (khói) xuống chỉ điểm mục tiêu cho máy bay cường kích lên đánh phá.

Ngày 20 tháng 2 (1967), chúng tôi hành quân vào tới Tam Lông nơi chúng tôi tập kết lần trước. Những con nai, con vượn còn ngơ ngác sau những trận bom, có con đã chết giữa ngày Xuân vì bom đạn của giặc Mỹ.

Giờ đây chúng tôi lại sống và hưởng không khí tỉnh mịch của chiến trường. Tôi không bỡ ngỡ và khó chịu như cách đây không lâu.

25/2 (1967) Trời không mưa nữa nhưng vẫn âm u. Chúng tôi nghỉ chân nơi những căn nhà lụp xụp làm tạm thời của đồng bào Thượng. Bất ngờ tôi có niềm vui mới, niềm vui ngoài mong đợi. Đang lúi húi chuẩn bị chỗ ngủ, bỗng một người lạ mặt gọi tên tôi :

- Hoành, Hoành phải không ?

Tôi ngơ ngác nhìn, rồi bỗng kêu lên :

- Ai ! Ai gọi mình đấy ?

mobile cell phone tracking

- Mình, Thọ đây.

Hồi hộp quá, tôi reo lên :

- Trời ơi, tôi vội vàng lao tới ôm chầm lấy Thọ, nỗi sung sướng không gì so sánh được đưa đến cho tôi.

Anh em ôm nhau tay bắt mặt mừng, tôi đón anh Thọ vào một căn nhà của đồng bào đã bỏ và chúng tôi ở lại đó.

Sau mấy năm xa cách chúng tôi không biết tin tức gì về nhau, hôm nay thật tình cờ và là lần đầu tiên tôi gặp người cùng xã. Ngoài anh Hiếu đi với tôi thì anh Thọ là người đầu tiên tôi gặp kể từ ngày đi bô đội.

Chúng tôi ôn lại những ngày còn thơ ấu, những ngày cắp sách tới trường. Ba năm chung sách chung đèn sớm tối có nhau, giờ đây lớn lên mỗi thằng một ngã, tình cờ hôm nay gặp lại nhau trên chiến trường. Thật là một sự kiện hiếm có.

Anh Thọ kể cho tôi những chuyện ở quê hương mà tôi chưa biết. Tôi lại kể cho anh Thọ nghe những ngày sống ở chiến trường vừa qua.

Chúng tôi nói chuyện này đến chuyện khác, nói mãi vẫn không hết, nhất là chuyện ở quê hương, các cô gái còn đua nhau đi lấy chồng. Cùng lứa tuổi với chúng tôi mà chúng nó đã lấy chồng, thậm chí có đứa đã cưới. Phong trào lấy chồng lên cao thật.

Tôi nói đùa cùng anh Thọ, khi nào ta về thành ra ế vợ lẻ loi lắm. Chúng tôi lại cười. Trong đêm tối nụ cười chúng tôi bây giờ cứng rắn hơn, không như khi còn ngồi trên ghế nhà trường nữa. Tôi bảo Thọ :

- Thọ ạ, mày viết thư về bảo gia đình hỏi vợ cho, kẻo sau này già đi không ai lấy nữa đấy.

Thọ đấm vào lưng tôi, tao chưa vội việc ấy đâu, sau này về sẽ liệu. Bây giờ để đi cho rảnh chân rảnh tay đã.

Chúng tôi nói chuyện đến khuya, rồi cả hai thiếp đi lúc nào không biết. Sáng dậy chúng tôi ăn vội vài bát cơm với môn thục rồi chia tay và hẹn nhau sẽ gặp lại ở quê hương khi nước nhà thống nhất.

27/2 (1967) chúng tôi dời ra làng Cát. Ra đây nhằm mục đích là nghỉ ngơi. Ngày ngày chúng tôi đi hái rau và tát bắt cá về cải thiện bữa ăn. Ở đây tuy rừng núi nhưng thoải mái hơn ở Tam Lông. Phong trào nhặt vỏ đạn, vỏ bom cưa làm lược, làm thìa lên cao. Người người đua nhau kỳ cạch suốt ngày. Tôi đã gò được một chiếc lược và một chiếc thìa, tuy không đẹp lắm nhưng là sản phẩm tự tay mình làm ra nên tôi cất nó để làm kỷ niệm.

25/3 (1967), lệnh cấp tốc chuyển về phía Tây Tà Cơn. Chúng tôi chuẩn bị một đợt hành quân ngắn ngày nữa. Hành quân là công việc bình thường của người lính Giải Phóng, cho nên chúng tôi không lo lắng hồi hộp lắm.

Trời cuối Xuân, những tia nắng xuyên qua rừng cây bị chất hóa học đốt cháy chiếu xuống mặt đất chói chang. Chúng tôi mang hành lý đi trên dãy núi 1001 trông như đoàn thám hiểm. Trời càng trưa, bụng càng đói, chân không muốn bước. Nhưng rồi chúng tôi đã đến nơi quy định.

Ngày 4/4 chúng tội bắt đầu triển khai đi nghiên cứu. Nhiệm vụ chính bây giờ là nghiên cứu cao điểm 832 và 845.

Chúng tôi đi lên những đồi cỏ lau lách đã bị đốt cháy chỉ cỏn lại những xương nằm ngổn ngang. Mấy tháng trời ở trong rừng xanh ít thấy mặt trời, bây giờ đi giữa những đồi trọc chẳng khác gì mấy công tử bột bắt đầu đi ra nắng vậy. Chúng tôi cắt rừng nhằm hướng mà đi, không theo lối mòn đường sá nào cả. Vừa đi vừa quan sát, đầu óc vô cùng căng thẳng. Chúng tôi nói với nhau bằng hành động, cử chỉ. Càng trưa nắng càng gay gắt, mồ hôi anh nào cũng đầm đìa lại phải chui dưới những bụi lau lách bị đốt cháy, tro tàn dính vào người trông như người đi đốt củi lấy than. Từ sáng đến tối, chúng tôi chỉ được một vắt cơm bằng nắm tay lót dạ.

8 giờ tối (2/4) chúng tôi bắt đầu tiền nhập điểm cao 832. Trời tối đen như mực, người đi sau không thấy người đi trước, cứ phải bám lấy nhau mà đi. Lúc này chúng tôi không thấy đói nữa, chỉ mong sao điều tra xong để trở về vị trí tập kết. Chúng tôi cứ thế, lần mò mãi tới 10 giờ mới lên tới cao điểm. Nỗi vui mừng của chúng tôi đã hé mở trên những cặp môi khô rát và khát. Trong đêm tối nhưng tôi cảm thấy như ai cũng phấn khởi. Nghiên cứu đâu vào đấy thì đã đến 3 giờ sáng, chúng tôi vội quay trở về. Vừa xuống tới chân đồi thì trời sáng hơn. Trông mặt đứa nào cũng hốc hác vì ban ngày vất vả, ban đêm lại thức trắng. Nhưng ai cũng có một niềm phấn khởi là đã hoàn thành nhiệm vụ. Cứ thế, những đêm sau chúng tôi thay phiên nhau đi điều tra lại và nghiên cứu 845, 751.

10/4 (1967), bộ đội bắt đầu vào triển khai. Do chuẩn bị chu đáo nên khi bộ đội vào có nhiều thuận lơi. Chúng tôi phân công rõ ràng cụ thể, từng người dẫn từng đơn vị vào vị trí. Tôi và anh Thái dẫn đại đội 3 lên bố trí ở cao điểm 845 và 751.

Khi bố trí trận địa xong, tiểu đội chúng tôi chia làm 3 tổ đi 3 hướng :

- Hướng thứ nhất do đồng chí Vân phụ trách, đi nắm địch thường xuyên ở 832.

- Hướng thứ 2, đồng chí Yên phụ trách đi nắm địch ở 845 và cao điểm 751.

- Hướng thứ 3, tôi phụ trách ở đài quan sát chỉ huy sở và nhận thông tin từ các hướng gửi về, tổng hợp báo cáo cấp trên.

Triển khai xong công việc, chúng tôi cũng như các đơn vị bộ binh bắt đầu đào công sự, chuẩn bị cho đợt chiến đấu sắp tới.

Mảnh đất rừng núi Quảng Trị tĩnh mịch này sắp diễn ra một trận chiến đấu ác liệt đây.

Vài lời ghi chú thêm :

Sau khi ra Quảng Bình, anh Hoành được ở lại ăn tết Đinh Mùi cùng đồng bào, sau Tết các anh lại nhận nhiệm vụ trở lại chiến trường. Xin nói là, lần này các anh vào tiếp tục công việc lần trước làm chưa xong, hay nói rõ hơn là chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch đường 9 – Khe Sanh sau này. Trong các phần trước tôi đã lần lượt giới thiệu sơ lược về tuyến phòng thủ và quy mô của nó. Phần này, anh Hoành tiếp tục đề cập đến nhiều địa điểm như : Tam Lông, Làng Cát, Tà Cơn, điểm cao 1001, 832, 845, 751, nói chung đây đều là những cứ điểm rất quan trọng trong tuyến phòng thủ đường 9 – Khe Sanh của địch. Vì anh Hoành chỉ hoạt động trên một hướng nên không thể phản ánh hết những diễn biến của chiến trường, anh chỉ phản ánh mũi trinh sát các anh thực hiện.

H?nh ?nh Hinh anh tran danh doi Ta Con - Khu c?n c? qu?n s? Khe Sanh

Một góc trận đánh căn cứ Tà Cơn

Để người đọc có cái nhìn toàn cục, hiểu khái quát các hoạt động của đơn vị anh Hoành và của cá nhân anh, tôi xin giới thiệu tóm tắt tình hình chiến sự thời bấy giờ trong khu vực anh Hoành hoạt động.

Tà Cơn là căn cứ quan trọng nhất trong các cứ điểm mà anh Hoành đề cập đến, thuộc huyện Hướng Hóa. Cách Khe Sanh khoảng 5 km, cách cửa khẩu Lao Bảo khoảng 20 km về phía Tây Nam, và cách Đông Hà khoảng 65 km về phía đông Bắc. Cụm cứ điểm sân bay Tà Cơn được coi là khu trung tâm, được xây dựng rất quy mô chạy dài 2 km, rộng 1 km, gồm nhiều tiểu cứ điểm với công sự kiên cố dày đặc và một sân bay cỡ lớn làm nơi cất, hạ cánh cho các loại máy bay vận tải quân sự hạng nặng, như C130, C123, máy bay trực thăng chở quân và trực thăng vũ trang.

Khe Sanh (trung tâm tuyến phòng thủ) nằm trên vùng cao nguyên gần biên giới Việt Nam – Lào, cắt tuyến vận chuyển đường mòn Hồ Chí Minh, đồng thời án ngữ trên trục quốc lộ số 9 nối từ Đông Hà đến Savannakhet nước Lào nên giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng.

Một vị trí đặc biệt trong chiến lược phòng ngự, ngăn chặn ở phía Tây – Bắc chiến trường Trị Thiên, một “cái mỏ neo” về phía Tây cho hệ thống phòng thủ chiến lược ở Nam Khu phi quân sự ; đồng thời là một căn cứ tuần tra để phong tỏa biên giới, ngăn chặn quân ta từ Lào sang, và cũng là căn cứ cho các hoạt động biệt kích nhằm quấy nhiễu các hoạt động của bộ đội ta dọc biên giới Việt – Lào. Khe Sanh được Mỹ sử dụng như một bàn đạp cho các cuộc hành quân càn quét trên bộ, ở đây xây dựng một sân bay cho các máy bay trinh sát kiểm tra, tìm diệt bộ đội chủ lực của ta, chỉ điểm cho các hoạt động đánh phá, ngăn chặn và cắt đứt các tuyến đường vận chuyển Hồ Chí Minh.

Căn cứ Khe Sanh được xác định là trung tâm của hệ thống hàng rào điện tử Mc Namara nên được Mỹ xây dựng một tập đòan phòng ngự mạnh, liên hoàn, kiên cố nhất ở địa đầu miền Nam Việt Nam, gồm các cứ điểm Làng Vây, Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm phòng ngự sân bay Tà Cơn. Bên cạnh đó một loạt căn cứ quân sự được xây dựng trên các hướng, các điểm cao xung quanh như : Căn cứ biệt kích ở Làng Vây, điểm cao 689, 682, 845, 832, 1009 (Động Tri ) với khoảng 6.000 quân.

Rõ ràng, nếu để cho Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xây dựng xong hàng rào điện tử Mc Namara thì Miền Bắc sẽ vô cùng khó khăn trong việc tiếp tế cho cách mạng miền Nam. Thấy được điều đó, phía địch tập trung nhanh chóng hoàn thành kế hoạch. Ngược lại, phía ta từ đầu đã tìm cách ngăn chặn Mỹ triển khai kế hoạch. Cuộc chiến xẩy ra trên khu vực này vì thế rất gay go, ác liệt, nhất là thời kỳ Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam.

Từ giữa năm 1966, khi người Mỹ manh nha triển khai thực hiện kế hoạch, phía ta bắt đầu theo dõi sát sao và tìm phương án ngăn chặn. Đơn vị anh Hoành là một trong những đơn vì làm nhiệm vụ ấy. Không chỉ trinh sát nắm địa hình về tình hình triển khai kế hoạch của địch, bộ đội ta còn tiến hành các trận đánh nhỏ, lẻ nhằm tiêu hao sinh lực địch, quấy rối làm cho địch phải ứng phó ngay khi chúng đang triển khai tuyến phòng thủ.

Kể từ khi anh Hoành trở lại chiến trường lần hai đến khi nổ súng mở màn chiến dịch đường 9 – Khe Sanh còn 1 năm nữa, nhưng trước đó anh và đơn vị đã chiến đấu nhiều trận. Trong khoảng thời gian dài ta và địch chiếm đóng với thế cài răng lược, do vậy có lúc cùng một căn cứ buổi sáng là quân ta giữ nhưng buổi chiều bị quân địch chiếm, hoặc ngược lại. Trong điều kiện thông tin liên lạc không phải lúc nào cũng thông suốt, trước đặc thù chiến trường như thế đòi hỏi bộ đội trinh sát luôn luôn phải cảnh giác, luôn luôn phải tỉnh táo.

Vài nét như vậy để thấy những khó khăn nguy hiểm anh Hoành phải đương đầu trong thời gian đi nghiên cứu chuẩn bị cho chiến dịch.

Trong phần này, anh Hoành đề cập đến hai người cùng quê, đó là anh Hiếu và anh Thọ. Cả hai người cùng học với anh Hoành. Anh Hiếu con thầy Hành làng Lý Nhân cùng đi bộ đội với anh và có thời gian hai người ở bên nhau. Anh Thọ con ông Ước làng Đông, đi bộ đội sau anh nhưng khi vào chiến trường họ gặp nhau như anh kể lại. Anh Thọ còn anh em xa với nhà tôi. Cố ngoại anh Thọ và cố ngoại tôi cùng chung cha mẹ. Khi bà nội tôi còn sống, nhà tôi thay bà làm giỗ cụ cố ở nhà ông Trí làng Đông.

Tuy chuyện gặp người cùng quê không liên quan nhiều đến nhiệm vụ của người lính, nhưng đây là điều đáng nhớ. Ở chiến trường bộ đội thiếu thốn tình cảm lắm, gặp được người cùng quê chẳng khác gì được gặp người thân. Quê hương là như vậy, ai cũng có và chí có một. Dù đói dù nghèo, Quê Hương luôn là niềm tự hào, luôn là tình cảm thân thương của những người con sinh ra trên mảnh đất ấy.

(Còn nữa)