Anh tôi (3)

Thực tập điều nghiên

Anh tôi (2)

Điều nghiên là thuật ngữ giới quân sự thường dùng để chỉ công việc cực kỳ quan trọng là điều tra, nghiên cứu chiến trường. Trong phạm vi hẹp, điều nghiên được dùng chỉ nhiệm vụ của các chiến sĩ trinh sát. Nói nôm na, muốn đánh một đồn bốt hay căn cứ nào đó, giải phóng một khu vực nào đó thì nhiệm vụ đầu tiên là phải nắm tình hình địch, trong đó địa hình bố trí lực lượng của địch cần phải nắm chính xác, lên sơ đồ từng vị trí đóng quân, các cụm hỏa lực, số lượng binh sĩ địch, vũ khí trang bị v.v…  Những nhiệm vụ quan trọng ấy được giao cho bộ đội trinh sát.

Muốn hoàn thành nhiệm vụ, các chiến sĩ trinh sát buộc phải bí mật vào tới nơi đóng quân của địch, đếm từng doanh trại, từng khẩu pháo, từng cụm hỏa lực rồi vẽ sơ đồ cụ thể báo cáo cấp trên để làm cơ sở lập phương án tác chiến.

Như vậy, nhiệm vụ của trinh sát rất nặng nề và đặc biệt nguy hiểm. Nếu báo cáo thiếu chính xác, nguy cơ thất bại rất cao. Chiến sĩ trinh sát, ngoài đòi hỏi phải dũng cảm, mưu trí, cần phải khéo léo, kiên cường và phải có trình độ bao quát tốt, trí nhớ tốt, khả năng định hướng tốt.

Trinh sát là công việc cực kỳ nguy hiểm, đôi khi bị lộ ngay từ lần đầu thâm nhập căn cứ địch, vì vậy công tác chuẩn bị cho một trận đánh, tùy quy mô, có thể phải hàng năm mới xong.

Theo ghi chép của anh Hoành, tôi cho rằng, anh là chiến sĩ trinh sát, anh và đồng đội thường xuyên phải thâm nhập các căn cứ địch, đôi khi phải vào ra căn cứ địch nhiều lần để nắm tình hình, vẽ sơ đồ chính xác báo cáo cấp trên. Một đặc điểm cúa các chiến sĩ trinh sát là hoạt động đơn lẻ, khi bị lộ một mình tự quyết định cách xử lý, không có lực lượng yểm trợ bên ngoài. Vì thế, nếu bị lộ coi như hoặc bị bắt, hoặc phải hy sinh, khả năng sống sót trở về là vô cùng nhỏ nhoi. Ngược lại, nếu tất cả đều hoàn thành nhiệm vụ, rút ra êm thấm về vị trí xuất phát thì cũng chỉ có mấy anh em với nhau, trở về đơn vị có khi phải đi cả tuần.

Sau đây là ghi chép của anh Hoành về một đợt đi trinh sát :

“Lần đầu tiên tôi sống nơi mảnh đất Quảng Trị, với khung cảnh tối tăm của rừng núi, từng loạt bom B52 ném xuống ngày đêm làm cho những con nai con vượn cũng không thể ngủ yên. Mới vào Thu mà rừng núi Quảng Trị mây mù phủ kín, mưa triền miên suốt ngày đêm. Ngày 25 tháng 9 (1966) chúng tôi bắt đầu nhận nhiệm vụ với bao khó khăn xuất hiện trước mặt.

Trời vẫn mưa tầm tã, nước dưới khe suối chảy cuồn cuộn. Nạn thiếu lương thực ngày càng đe dọa trầm trọng.

Dù khó khăn bao nhiêu cũng không cản trở được người chiến sĩ giải phóng. Chúng tôi hướng thẳng Động Tri đi tới. Cao điểm 1009 (Động Tri) xuất hiện trước mặt rồi. Những khuôn mặt hớn hở, nói nói, cười cười, hy vọng sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Đêm nghỉ ngày đi, đến hôm nay (29/9) chúng tôi đã tới cao điểm cần điều nghiên (1009). Tới nơi, địch vừa rút khỏi nơi đây được vài ngày. Các thứ rác rưởi chúng để lại còn mới nguyên, nhất là đồ hộp, chúng vứt lung tung. Chàng nào cũng bỏ đồ hộp đầy túi thì thôi. Chúng tôi vẽ sơ đồ tỉ mỉ xong rồi trở về.

Nạn thiếu lương thực ngày càng trầm trọng thêm, bao nhiêu đồ hộp nhặt được cũng đã ăn hết, giờ chỉ còn một hộp sữa phòng khi có ai xảy ra chuyện gì để bồi dưỡng. Vậy mà đến thế cùng, chúng tôi cũng phải đục ra hòa lộn nước sôi, 12 anh em chia nhau uống cầm hơi rồi tiếp tục lên đường trở về vị trí xuất phát.

Ngày lại, ngày qua tôi đã sống trên mảnh đất Quảng Trị hơn 3 tháng. Tôi đã quen với cảnh nằm hầm, nói nhỏ rồi và không hồi hộp trước những loạt bom B52 dội xuống xung quanh nữa.

Ngày 15-12 chúng tôi nhận lệnh trở ra Bắc. Ban đầu tôi tưởng cấp trên thử tinh thần chúng tôi. Nhưng thực rồi, điện xuống thực rồi. Thế là chúng tôi tạm biệt rừng núi Quảng Trị trở ra Bắc “.

(Hết trích dẫn)

Nh? nh?ng giai ?i?u Khe Sanh thu? ?y

Bô đội thông tin đồi A – Quảng Trị (ảnh minh họa)

Tôi đặt tên cho phần này là “Thực tập điều nghiên”. Bởi rõ ràng đợt trinh sát anh Hoành vừa kể mới là mở màn, hay nói đúng hơn cấp trên giao nhiệm vụ cho các anh đi đến một nơi không có địch rồi trở về, chưa phải điều nghiên chiến trường thực sự (cũng có thế, địch chỉ lên Động Tri để nghiên cứu chứ chưa quyết định đóng chốt, nên sau khi khảo sát họ đã rút đi). Nhưng như vậy cũng tốt rồi, một tốp lính trinh sát lần đầu nhận nhiệm vụ cắt rừng đi xa đơn vì hàng tuần mà tới vị trí rồi trở về an toàn cũng là một thành công.

Xin nói thêm, Động Tri (tức cao điểm 1009) anh Hoành nhắc đến, thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị. Hướng Hóa là huyện miền núi, đất rộng, người thưa ; bấy giờ dân số khoảng 30.000 người, chủ yếu là người hai dân tộc Pa-cô và Vân Kiều. Chi khu quân sự và quận lỵ Hướng Hóa nằm trên đường 9 và là vị trí trung tâm Khe Sanh nên nơi đây được Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh giá là nơi an toàn nhất trong hệ thống phòng thủ đường 9 – Khe Sanh. Điểm cao 1009 (Động Tri) sau này là một trong nhiều cứ điểm được địch bố trí lực lượng nhằm bảo vệ quận lỵ Hướng Hóa như Tà Cơn, điểm cao 832, 683, 573. Muốn tiến đánh cứ điểm Khe Sanh, trước hết phải giải phóng Hướng Hóa, nếu không giải phóng được thì chí ít cũng phải khống chế lực lượng địch ở Hướng Hóa. Muốn khống chế được Hướng Hóa thì phải tiêu diệt các điểm cao nói trên. Đó là lý do giải thích, vì sao tổ trinh sát của anh Hoành phải vào trinh sát Động Tri. Dù địch đã rút khỏi Động Tri, nhưng cấp trên vẫn nhận định, sớm muộn gì địch cũng sẽ triển khai lực lượng ở Động Tri !

Cần nói thêm, khi anh Hoành vào nghiên cứu Động Tri là cuối tháng 9 – 1966. Chiến dịch đường 9 – Khe Sanh được cấp trên ấn định vào đầu năm 1968. Theo đó thời gian còn hơn một năm nữa. Cũng theo ghi chép của anh Hoành, khi lên tới Động Tri thì quân địch vừa rút được vài ngày. Không bị tấn công mà địch tự rút. Động Tri bây giờ chưa phải là một cao điểm, điều đó cho thấy nhận định sáng suốt của cấp chỉ huy quân đội ta, biết rõ sớm muộn địch sẽ xây dựng Động Tri thành cao điểm kiên cố nên đã cử trinh sát của ta lên nắm tình hình trước, nhằm bổ sung cho phương án đánh Động Tri sau này. Có thể kết luận, những tháng cuối năm 1966 tình hình chiến sự ở mặt trận đường 9 – Khe Sanh đang yên ắng, Mỹ và quân đội Sài Gòn, dù đang bố trí hệ thống phòng thủ, nhưng tình hình cho thấy họ chủ động trong mọi quyết định của mình. Đó là thời kỳ họ triển khai xây dựng “hệ thống phòng thủ đường 9 – Khe Sanh với hàng rào điện tử Mc Namara” (tôi đã giới thiệu trong bài trước) mà trung tâm là căn cứ Khe Sanh, một căn cứ, theo người Mỹ sẽ là “Bất khả xâm phạm”.

Ở đây tôi nói đến những địa điểm và nhiệm vụ của bộ đội có liên quan trong nhật ký của anh, tức anh Hoành với nhiệm vụ của người trinh sát, có tham gia. Tình hình mặt trận trong thời gian ấy nói chung có thể không phải như nhận định của tôi. Tuy nhiên theo chủ quan của tôi, những tháng cuối năm 1966 là thời kỳ lực lượng quân Mỹ đang rất mạnh, những người chỉ huy chiến trường, nhất là ở Bộ Tổng Tham mưu họ hiểu điều đó. Thượng sách bấy giờ là theo dõi chặt chẽ tình hình triển khai quân cửa địch để khi thời cơ xuất hiện sẽ mở những trận đánh quyết định.

Vì những lý do trên, đợt trinh sát đầu tiên của nhóm anh Hoành đã trải qua những khó khăn thử thách, nhưng với bộ đội trinh sát đó chưa phải là những thử thách thật sự. Đối với các anh thử thách cam go đang ở phía trước.

Có lẽ vì thế nên những lúc rỗi rãi anh Hoành lại tiếp tục viết những vần thơ lãng mạn:

 

THƠ GỬI EM

Đây một dòng thơ nơi núi rừng biên giới,

Tận đáy lòng anh gửi tới em yêu,

Rút đề thơ trong một buổi đông chiều,

Đông tầm tã như lui về dĩ vãng.

Xuân đã đến, em ơi xuân đã đến,

Xuân của ngày xuân và của tuổi xuân.

Xuân này đây nơi biên giới núi rừng,

Anh không được gần em tâm sự.

Lý do đó chắc em đã rõ,

Em rõ rồi và rõ lắm chứ em ơi.

Anh ở đây giữ đất giữ trời,

Giữ mùa xuân và cả ngày xuân em nữa.

Tuy xa cách nhưng tình yêu chan chứa,

Lửa hương tình đôi lứa vẫn bên nhau.

Xuân này đây anh viết vài câu,

Chúc em khỏe ngày đầu xuân mới.

Thư anh viết nơi núi rừng khe suối,

Gửi hồn anh ấp ủ trái tim em

Xuân này sang, đời em thêm tươi trẻ.

Đời đẹp thêm như mùa xuân hoa nở,

Xuân thắng lợi, xuân hòa bình rực rỡ.

Ta đi lên tin tưởng ở ngày mai,

Thương nhớ em anh không viết được dài,

Anh gửi gắm tấm lòng anh em nhé.

Cuối thư này chúc em sức khỏe,

Đón xuân sang đời em trẻ thêm hơn.

Gửi tới em một hình ảnh nụ cười,

Em đón lấy dòng thơ anh bay tới.

Rừng núi V-L, 15.12.1966

 ĐI CHIẾN ĐẤU

Hôm nay tôi lại ra đi,

Lên đường chiến đấu gian nguy không sờn,

Lần này lại vượt Trường Sơn

Thênh thang đỉnh núi, mây vờn dưới chân.

Một ngày hai buổi hành quân,

Leo đèo lội suối đôi chân chẳng sờn.

Càng đi đường lại càng trơn

Sên vắt càng lắm căm hờn càng cao,

Vai càng mang nặng thêm nhiều

Chân đi vượt dốc vượt đèo càng hăng.

Bao nhiêu gian khổ khó khăn

Nhưng người lính chiến xem bằng như không.

Dãy Trường Sơn trùng trùng điệp điệp

Trải thảm xanh tươi đẹp vô ngần.

Ta đi phơi phới tuổi xuân

Nguyện đem sức trẻ hiến dâng cho đời.

Trường Sơn, 20/12/1966

ĐƯỜNG RA CHIẾN TRẬN

Anh viết cho em khi mùa thu đang tới,

Ngòi bút say sưa của mối tình đầu,

Mượn lời thơ gửi thương nhớ cho nhau.

Em nhỉ ! Mùa xuân tình yêu đang tới.

Nhớ thương em, anh hành quân đi mãi,

Đi, ra đi dành lại mùa xuân.

Anh say sưa trong những bước hành quân

Hoa nở khắp các nẻo đường ra trận.

Anh hái hoa tặng em,

Cùng với hoa chiến thắng,

Qua gian lao từ bão lứa dành về.

Từng bước anh đi em có lắng nghe,

Xuân đang tới thì thầm bao tiếng gọi.

Anh nhớ em, nhớ những điều em nói,

Sưởi ấm lòng nhau mỗi buổi chiều đông.

Nhớ những gì bên bến nước dòng sông

Em nghe chăng, Xuân về, ôi tuyệt đẹp !

Nắng vàng chiều xuân in ánh thép,

Súng vươn nòng kiêu hãnh giữa trời xanh.

Hoa nở giữa rừng, đua sắc lung linh,

Hoa cũng nhớ thương, cũng sẵn sàng quyết chiến.

Gợi vạn ý, hương xuân bay lưu luyến,

Ấm áp lòng người chiến sĩ xa quê,

Gửi nhớ thương về qua mỗi bước chân đi.

Em đã thấy xuân về mang theo chiến thắng ?

Bởi những con người bao đêm ròng thức trắng

Đi theo xuân, quyết chiến giữ mùa xuân.

Đi, anh đi

Trước mặt là gian truân,

Là bão lửa đang hừng hực cháy.

Em thân yêu, đường anh đi là vậy

Có tên em có đảng kề bên,

Anh mang theo nhằm bão lửa xông lên,

Trong trận đánh em là người tiếp sức.

Súng anh nổ xác quân thù ngã gục

Vì yêu thương không bắn trượt một tên.

Vì độc Lập Tự Do quyết thắng xông lên.

Em thương nhớ, bao mối tình dang dở,

Quê hương ta máu bao người đã đổ,

Anh phải đi dành lại em ơi,

Góp sức cùng triệu triệu con người.

Em đón nhé, mùa xuân đang tới.

Giữa mùa xuân bao lòng xuân chờ đợi,

Bao lòng xuân từ tiền tuyến gọi về

Bao chiến công, bao hứa hẹn say mê.

Anh gửi cho em bài thơ đường ra chiến trận,

Là gửi cho em nguồn vui bất tận,

Nhận lấy em nghe, quà của người thương,

Tình yêu đôi ta sống giữa quê hương,

Thêm đẹp mãi trên đường đi chiến đấu.

Khi anh về không còn như cũ,

Tóc pha sương, da nhuộm khói chiến trường,

Không được như xưa em nhé đừng buồn

Vinh dự đó anh của em nhận lấy.

Anh viết cho em bài thơ khi mùa xuân đang tới,

Trên đường chiến chinh.

Nhớ thương em,

Anh lại hành quân.

Quảng Trị, 15.2.1967

Vẫn những dòng tâm sự với một cô gái lý tưởng nào đó. Qua những vần thơ ta thấy nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời và hy vọng vào tương lai tươi sáng của người lính trẻ. Do biết mình có thể hy sinh nhưng ngày chiến thắng ắt sẽ tới. Niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của Dân tộc đã giúp bao chiến sĩ từ thế hệ này qua thế hệ khác không ngại hy sinh xông lên phía trước, trong đó có Anh.

Bài thơ “đường ra chiến trận” anh viết trong thời gian trở lại chiến trường lần hai. Đáng lẽ đưa bài này vào phần tiếp theo, tôi đưa vào phần này. Vì rằng đây là bài thơ sau cùng anh tâm sự với người con gái lý tưởng của mình, tôi muốn dẫn người đọc hiểu liền mạch về một chủ đề. Sau này, thực tế khắc nghiệt của chiến trường ác liệt, hy sinh đã tôi luyện bản lĩnh cho anh, vả lại anh không có nhiều thời gian để nghĩ đến những vần thơ lãng mạn mơ mộng như thế nữa, thay vào đó là những vần thơ cứng cáp nói về mình, về đồng đội, về những trận đánh. Sau khi bị thương, anh trở về quê hương, từ đó tình yêu lại được đề cập đến trong một số bài thơ khác, nhưng đây là những bài thơ đích thực viết về tình yêu của mình, viết về một cô gái có thật trên đời, tôi sẽ tiếp tục giới thiệu trong những bài tiếp theo.

android text spy

(Còn nữa)