Anh tôi (8)

NHỮNG NGÀY THÁNG NẶNG NỀ

Kể từ năm 1965, mỗi độ Xuân về, nhân dân ta lại háo hức chờ đón những dòng thơ chúc Tết của Bác Hồ. Dân làng Phan cũng vậy. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, sự mất mát hy sinh đến với mỗi nhà thì thơ chúc Tết của Bác vang lên trên đài truyền thanh mỗi dịp đầu xuân như một luồng sinh khí mới truyền đến muôn dân. Tết Mậu thân 1968, Bác chúc chiến sỹ đồng bào :

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

Nam – Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

Tiến lên ! Toàn thắng ắt về ta !

Nghe những vần thơ của Bác ai cũng rạo rực niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng. Các ông già hay thơ, hay chữ còn phân tích rõ ràng, “theo ý của Cụ thì năm nay là xong đấy. Toàn thắng ắt về ta mà”. Ai cũng mong chờ chỉ có vậy.

            Quả thế thật ! Bước sang năm 1968 tin chiến thắng dồn dập tràn về, quân và dân miền Nam mở chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy khắp các thị thành. Mỗi ngày thống kê số liệu quân địch bị tiêu diệt càng tăng lên, số đô thị bị quân ta chiếm giữ ngày càng nhiều. Ai cũng nô nức, ai cũng nghĩ ngày toàn thắng, ngày đoàn tụ gia đình đã đến. Nhưng rồi, vài tuần sau, tin chiến thắng vẫn dồn dập mà ngày toàn thắng thì chưa ! Trái lại những đợt ném bom của máy bay Mỹ ngày càng ác liệt chưa từng thấy. Những người từng trải thì rỉ tai nhau, chiến thằng càng lớn thì sự hy sinh mất mát càng nhiều !

            Với nhà tôi, những ngày tháng đầu năm 1968 là thời gian nặng nề khủng khiếp nhất. Anh Hoành bặt tin, chị Bốn đang hoạt động dưới “túi bom” Truông Bồn – Thanh Chương. Người cha người mẹ nào có con chiến đầu ngoài mặt trận mà không khắc khoải đợi chờ ngày chiến thắng. Và không ai, dù không muốn, chẳng có một lần nghĩ rằng, con mình liệu có thoát khỏi hòn tên mũi đạn đạn để trở về ? Chỉ một lần nghĩ đến vậy thôi là đủ hủy hoại trái tim người mẹ ! Cùng với ngày tháng vắng tin của anh chị là cảnh ốm đau của mẹ. Mẹ tôi, vì lo lắng quá, mất ăn, mất ngủ không còn đứng vững nữa. Cha tôi đã gần 60 tuổi, chị Sáu lớn hơn lại phải đi dân công hỏa tuyến, trong nhà còn lại tôi và bốn đứa em còn nhỏ. Ngoài công việc gia đình, tôi còn đi học, phải chăm sóc mẹ ốm, hai ba lần trong vài tháng đầu năm 1968 phải đưa mẹ đi bệnh viện. Một gia đình, người ăn thì nhiều, người làm chỉ mình cha tôi, mẹ ốm đau triền miền thì lấy gì ăn mà không đói, không khổ ?

            Sau ba lần đưa mẹ đi bệnh viện, cuối cùng bệnh viện trả về vì “bà bị loét dạ dày, tuổi cao không đủ sức để mổ !” (Thật ra, bấy giờ mẹ tôi mới 48 tuổi). Bệnh viện trả rồi, vậy là chỉ chờ chết nữa thôi. Cha tôi quyết định để mẹ ở nhà chữa bằng thuốc nam, thuốc Bắc. Ông nói : “Một phần vi bom đạn, một phần không có người thì đưa mẹ đi đâu được, cứ để ở nhà chữa bằng thuốc nam, thuốc bắc, nhỡ có chết cũng được thơm xương !”

            Cha tôi để mẹ ở nhà thật, rồi bắt đầu đi mua hàng bao tải các loại lá cây người ta bày chỉ đem về cho mẹ uống. Ơn trời, bệnh không khỏi nhưng sức khỏe của bà cũng không yếu thêm.

            Một chiều tháng 5 năm 1968, vừa ở đồng về, tôi thấy cả nhà cùng nhiều bà con hàng xóm đang xúm lại vui vẻ nói cười. Chị Chắt Trì (bưu tá) vừa lấy phong thư trong cặp trao cho mẹ tôi – Thư của anh Hoành – Mọi người òa lên vui sướng, mẹ tôi hai tay cầm phong thư run run, nước mắt giàn dụa. Tôi cuống lên, nhận lá thư từ tay mẹ rồi vội vàng bóc ra đọc. Khi đọc đến câu anh viết “rất tiếc từ nay con không được bay nhảy nữa” tự nhiên mẹ tôi và mự Thơu ôm nhau ngồi sụp xuống sân khóc nức nở. Ngỡ ngàng, tôi dừng lại xem mình vừa đọc điều gì đến nỗi hai bà phải ôm mặt khóc như thế. Hóa ra câu nói lấp lửng của anh đã được linh cảm của người mẹ nhận biết “anh đã bị thương”. Có lẽ hai bà mường tượng ra rằng, khi đứa con ra đi khỏe mạnh, lành lặn mà bây giờ không còn nguyên vẹn nữa, và chưa biết anh bị thương ở đâu, đến nông nỗi nào nên sự tưởng tượng quá mức đến hình ảnh những người thương binh cụt chân, cụt tay, thậm chí cụt cả hai chân hai tay đã làm cho người mẹ phải chua xót, đau đớn.

            Từ khi nhận được tin anh (anh không cho biết đang điều trị ở đâu), chẳng quản bom đạn, đói khổ, cha tôi lặn lội khắp các quân y viện dã chiến trên địa bàn các huyện Yên Thành, Tân Kỳ, Thanh Chương, nhưng đều bất lực, không thể tìm gặp được anh. Tuy vậy dần dần thông tin anh bị thương cũng được xác định. Từ được cho là tin giữ chuyển dần thành tin tốt lành – Dù bị thương nặng thì sớm muộn anh sẽ được về, còn hơn nhiều người không còn cơ hội trở về với gia đình nữa.

Từ đấy thư đi thư lại nhiều và dễ dàng hơn, tuy nhiên anh vẫn bí mật không cho cha mẹ biết anh đang ở đâu, bị thương như thế nào ? Bấy giờ, từ vĩ tuyến 19 trở ra người Mỹ đã ngừng ném bom, huyện Yên Thành phía Bắc vĩ tuyến 19 nên không còn bom đạn nữa vì vậy cha mẹ tôi đỡ lo hơn nhiều.

            Đầu tháng 9 năm ấy, buổi chiều tôi vừa từ đồng về thấy hai anh bộ đội ngồi trên chõng trước nhà, mọi người vây kín xung quanh, hóa ra anh Hoành và một người bạn nữa vừa về. Mừng quá, tôi muốn vào ôm chầm lấy anh nhưng mọi người vây chặt chung quanh không vào được. Mẹ tôi đứng đàng sau, một tay ôm lấy vai anh, một tay xoa đầu xoa má anh, miệng cười hớn hở, thỏa nguyện.

            Vậy là, sau gần 4 năm đi chiến đấu, và hơn nửa năm bặt tin bấy giờ anh đã trở về. Tuy bị thương, anh bị mất một mắt và vài viên bị đang nằm trong đầu, nhưng trông anh khỏe mạnh, mập mạp, hồng hào, thần kinh tỉnh táo. Anh về giải tỏa được nỗi lo âu thắc thỏm của cha mẹ suốt mấy năm qua, giải tỏa được những ngày tháng nặng nề từ đầu năm 1968, giải tỏa được nỗi nghi ngờ bởi tin đồn nửa kín nửa hở lan truyền khắp xóm làng rằng, anh đã hy sinh !

Và điều quan trọng, anh không phải trở lại chiến trường nữa, hoàn toàn có cơ hội thực hiện mong ước, xây dựng tương lai hạnh phúc cho mình và cho cả gia đình.

 

This Post Has 0 Comments

Leave A Reply