Anh tôi (2)

Anh tôi (1)

Lên đường nhập ngũ

Đầu tháng Tám năm 1964, sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” xảy ra, ngày 5 người Mỹ lấy cớ chính họ tạo nên, đem máy bay ra ném bom bắn phá miền Bắc. Chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của người Mỹ bắt đầu.

Thanh niên Làng Phan lần lượt lên đường. Lần này sức khỏe loại A 3 như anh Hoành được chấp nhận. Anh mừng và tự hào ra mặt, bởi trước anh, đã có một số người ra đi. Anh thì mừng, tôi thì tự hào vì có người anh vào bộ đội, còn cha mẹ tôi thì hiểu đời nên tỏ ra vô cùng lo lắng.

Những người tòng quân trước anh, thường huấn luyện xong họ được về nghỉ phép thăm gia đình rồi mới đi xa, riêng anh thì không. Vừa ăn Tết Ất Tỵ xong, ngày 15/2 /1965, anh cùng anh Nhận và anh Đức lên đường nhập ngũ. Đây là đợt đầu thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự thời chiến, không còn ấn định thời hạn tại ngũ nữa. Các anh ra đi là thẳng vào Quảng Bình ngay và từ đó vào chiến trường luôn không quay ra Bắc. Thời kỳ đầu anh viết thư về và trước khi vào chiến trường anh gửi về cho cha mẹ 100 đồng bạc. Mấy tháng sau anh gửi tiếp 100 đồng nữa. Chẳng biết bộ đội lấy tiền đâu, hay trước khi đi chiến trường Nhà nước cấp cho tiêu dùng rồi anh tiết kiệm gửi về cho cha mẹ ? 200 đồng bạc thời ấy có giá trị lắm, có thể nuôi sống cả nhà 3, 4 tháng.

Anh biết nhà mình nghèo, cha mẹ và các em ở quê thiếu thốn đủ bề. Chẳng riêng gì anh, thanh niên nam nữ trong làng đều thế. Khi còn ở nhà chẳng đứa nào hé răng nói một câu thương cha thương mẹ, thương các em. Ấy thế mà ra đi được ít ngày dường như họ khôn hơn lên, viết thư về cho cha mẹ lời lẽ thắm thiết lắm, lúc nào cũng thương thương nhớ nhớ. Rồi thì kể lể, ân hận tự trách mình và mong cha mẹ tha thứ vì nông nổi thơ dại mà khi ở nhà không làm lụng chuyên cần giúp đỡ cha mẹ, trái lại đôi khi còn trốn đi chơi cùng chúng bạn làm cha mẹ buồn lòng, để đến khi xa rồi mới thấy thương thấy nhớ.

Bấy giờ tôi đã học lớp 5, lớp 6, thư anh viết về tôi được giao đọc cho cha mẹ nghe và chấp bút thay cha mẹ viết thư trả lời anh. Mỗi lần nghe tôi đọc thư anh, mẹ tôi thường rơi nước mắt. Cha thì bình tĩnh hơn, ít khi ông thể hiện nỗi nhớ ra mặt, tôi thì đôi khi cũng cảm động mà rưng rưng.

Các bậc cha mẹ, ai cũng lo lắng khi con trai đang chiến đấu ngoài mặt trận, ấy thế mà cũng tự hào vì có đứa con mau chóng trưởng thành. Những lúc rỗi rãi họ mang thư của con mình đọc cho nhau nghe rồi bàn tán bình luận. Ai cũng xác nhận, môi trường quân đội là nơi lý tưởng rèn luyện con mình mau chóng trưởng thành. Anh tôi, ngoài tình cảm thể hiện trong các bức thư, thì 200 đồng bạc anh gửi về cho cha mẹ rõ ràng là minh chứng sự mau chóng trưởng thành của anh. 200 đồng bạc đã hỗ trợ rất nhiều cho cha mẹ tôi trong lúc túng bấn.

Mừng vì thấy con mau chóng trưởng thành, song nỗi mừng ấy không giải phóng được sự lo lắng của người mẹ. Từ ngày anh đi, mẹ tôi ăn không ngon ngủ không yên, suốt ngày lo nghĩ về anh, không hiểu anh sống ra sao, chiến đấu thế nào, liệu có qua được sự nguy hiểm ?

Không lo sao được. Chiến tranh ngày mỗi ác liệt. Đâu phải ở chiến trường, mà ở nhà bom đạn cũng chẳng trừ. Con người là trung tâm của cuộc chiến. Hàng ngày từng đoàn bộ đội trai trẻ hồng hào, quần áo tươm tất, súng ống gọn gàng hăm hở hành quân vào Nam chiến đấu. Người đi vào thì thế nhưng người đi ra hiếm lắm. Những người được ra là thương bệnh binh, không cụt chân thì cụt tay, chí ít cũng phải băng bó khắp người ; người nào không bị thương thì mười phần chỉ còn ba phần là người, bảy phần còn lại là ngợm ; bụng ỏng đít beo, ngoài hai mươi mà đi không vững, phải chống gậy, phải tựa vào nhau mới đi được.

Dạo ấy, làng Phan có hai người, một là anh Chắt Chính, hai là anh Chắt Phúc được về. Anh Chắt Chính nhỏ người, quá tuổi nghĩa vụ rồi nên anh không phải đi bộ đội. Không đi bộ đội thì đi dân công “hỏa tuyến”, chiến tranh thiếu gì việc. Sau 1 năm hết hạn anh được về. Hôm ấy hàng chục người ngồi chơi mát ở khanh ông Miện nhìn thấy anh đi từ phía chợ về làng mà không ai có thể nhận ra, mãi khi anh về đến tận nơi nhe răng cười chào mọi người, bấy giờ mọi người mới trố mắt ra, reo ầm lên “ôi, cha Chắt Chính bay ơi ! Cha Chắt Chính !” Trông anh như đứa trẻ lên 10, rách rưới, gầy gò, đen như cột nhà cháy, chỉ thấy hai con mắt là còn sự sống.

Anh Chắt Phúc thì khác, anh đi bộ đội, lần đó anh được về thăm nhà sau khi đã được an dưỡng ở quân khu. Anh Phúc cũng chẳng bị thương gì, nhưng da xanh dớt, người yếu ớt như lá rau. Ấy thế mà nghe anh bảo từ chiến trường ra đã được bồi dưỡng cả thang rồi mới về đây.

Chứng kiến trực tiếp những hình ảnh như vậy, người mẹ nào mà chẳng đau chẳng xót. Nếu con mình không hy sinh thì rồi cũng như con người ta vậy, chẳng còn giữ được hình người nữa. Mười bà mẹ có con ở chiến trường thì đến tám chín bà lo lắng quá mà đổ bệnh. Mẹ tôi cũng không thể loại trừ, sau 1 năm anh đi bộ đội, bà ngã bệnh, từ đó bà không tham gia làm đồng được nữa.

Chiến tranh – Máu – Nước mắt.

Ác liệt hy sinh là vậy, nhưng lạ, lạ thật đấy ! Thanh niên làng Phan lớn lên anh nào là sẵn sàng lên đường anh ấy, hớn hở lắm, hình như họ chẳng sợ hãi chút nào. Tâm trạng anh Hoành cũng vậy. Những ngày đầu trong quân ngũ, anh viết :

TẠM BIỆT QUÊ HƯƠNG

 Tạm biệt quê hương

Xa đồng quê, xa cả tình thương,

Xa cô gái có làn da trắng tuyết,

Có tấm lòng dậy sóng yêu thương.

*

Tạm biệt em bên đường quê nắng đổ

 Quà trao tay, em gửi cả trái tim mình,

Em chỉ nhìn không một lời nói nhỏ,

Xao xuyến trong lòng, anh chỉ biết lặng thinh. 

*

Đi đã xa, tôi ngoái đầu nhìn lại,

Vẫn thấy em bên khóm liễu nhìn theo.

Hình ảnh ấy trong lòng tôi sống mãi

Thổn thức

 Tim hồng

 Ơi bóng dáng thương yêu.

Quê hương, 15.2.1965.

VIẾT CHO EM BÀI THƠ

Anh muốn viết cho em bài thơ đầy nhựa tình cuộc sống,

Nhưng em ơi,

Tổ Quốc thân yêu còn nước sôi lửa bỏng.

 Anh ra đi dòng thơ ngắt quảng giữa chừng,

 Như đôi ta chữ tình chưa trọn được.

 Em có khóc lệ nhòa, đôi mắt đẹp,

 Em thân yêu

 Tình ta cần chất thép,

 Trong lò gang cách mạng trường kỳ.

Anh hiểu rồi nên anh mới ra đi,

 Anh không khóc khi tình ta ly biệt.

 Anh chỉ tiếc những phút đời thắm thiết,

Của hương thơm dưới ánh trăng rằm,

Tuổi say sưa đang lớn với tháng năm,

 Mà hôm nay ta xa nhau trong năm tháng.

Khi gặp lại em, say sưa trong lửa đạn,

 Dành lại cho mình bao thử thách gian lao.

 Anh lớn khôn, em có thấy tự hào ?

 Anh vui lắm, em trưởng thành trong khói lửa.

 Gặp lại nhau trong lòng hăm hơ,

 Em lại bên anh, đôi mắt sáng em cười.

 Em lớn khôn rồi, cô gái thuở xưa ơi.

 Quảng Bình, 10.5.1965.

Hai bài thơ, tuy câu từ, vần điệu không được như của những nhà thơ chuyên nghiệp, nhưng tất cả đều toát lên tinh thần lạc quan của người thanh niên – người lính trong giai đọan đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh. Hai bài thơ anh viết khi mới vào quân đội, tham gia huấn luyện ở Quảng Bình. Bấy giờ chiến tranh phá hoại rất ác liệt, nhất là khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình.

Năm 1965, cùng với việc mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, người Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam với nhiều sư đòan đặc biệt tinh nhuệ, trang bị vũ khí hiện đại. Mỹ và đồng minh đã đẩy cuộc chiến tranh Việt Nam lên quy mô và cường độ chưa từng có. Với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, sử dụng hai gọng kìm “Tìm – Diệt”, Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt quân giải phóng miền Nam trong vòng 18 tháng, đánh gục ý chí chống Mỹ của người miền Bắc, xây dựng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vững mạnh, nhanh chóng kết thúc chiến tranh theo ý đồ của Mỹ.

Trong hai năm, khoảng từ cuối năm 1965, đến giữa năm 1967 chiến tranh trở nên ác liệt. Lực lượng ta ở miền Nam chủ yếu chống cự các trận càn quét của đối phương. Cùng thời gian đó, miền Bắc bị đánh phá khủng khiếp, việc tiếp tế cho miền Nam gặp rất nhiều khó khăn. Một phòng tuyến hiện đại nhất thế giới được xây dựng mang tên “Hàng rào điện tử McNamara” với chiều dài 100 km dọc theo sông Bến Hải, chiều rộng 500 m với hàng trăm triệu quả bom, mìn và các thiết bị dò tìm điện tử tinh vi khác, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Nhưng “vỏ quít dày có móng tay nhọn”, người Việt Nam đã không để cho người Mỹ muốn làm gì thì làm. Sau một thời gian bị động, lúng túng “tránh nhiều hơn đánh” trước sức mạnh được tăng cường dồn dập của quân đội Mỹ, quân đội ta đã lấy lại thế trận, đến đầu năm 1967 bắt đầu tổ chức những trận đánh đạt hiệu quả tiêu diệt cao. Từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 7 năm 1968 ta mở chiến dịch “đường 9 – Khe Sanh”, chiếm lĩnh căn cứ quan trọng này. Chiến dịch “đường 9 – Khe Sanh” thắng lợi đã làm thay đổi cán cân trên chiến trường, mở đầu cho thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Sơ qua vài nét về tình hình chiến sự trong giai đọan anh Hoành đang hoạt động ở chiến trường Bình – Trị – Thiên để thấy mức độ ác liệt của chiến tranh, sự nguy hiểm đến tính mạng của người lính tham gia các chiến dịch. Từ đó mới thấy, tinh thần lạc quan của người lính trong hoàn cảnh ấy đáng quý làm sao. Tinh thần ấy, thậm chí còn mạnh hơn cả súng đạn.

Trở lại với hai bài thơ trên. Cả hai bài thơ đều viết dưới dạng tâm sự với một cô gái thân thương nào đó. Thật ra cô gái trong bài thơ là nhân vật của văn học, sản phẩm của trí tưởng tượng, nỗi mơ ước cúa người viết, không phải một cô gái cụ thể nào có thật trên đời.

Có thể nhiều người đặt vấn đề, tại sao trong ác liệt hy sinh anh không viết về cha mẹ, gia đình mà lại viết về người con gái tưởng tượng nào đó ? Nếu nghĩ kỹ ta thấy, viết về cha mẹ và gia đình khó làm sao. Dù lạc quan đến mấy, dù cứng cáp đến mấy, chẳng có chàng trai nào không nhớ cha nhớ mẹ, nhớ chị nhớ em ; nhất là khi sống cô đơn nơi rừng thiêng nước độc, nơi chiến trường đẫm máu. Trong hoàn cảnh như thế, nghĩ đến cha mẹ là nước mắt rơi làm sao viết được. Nếu viết cũng là những vần thơ ảo não, buồn bã, nhớ nhung. Những vần thơ như thế không phù hợp với thời đại ! Nên nhớ rằng, thư từ gửi từ hậu phương ra tiền tuyến và ngược lại còn bị kiểm soát, không phải viết thế nào cũng được. Trong hoàn cảnh như thế thì ai nói hay viết những câu văn, câu thơ không phù hợp làm ảnh hưởng đến tư tưởng người lính đều bị phê phán, quy chụp cho là bệnh tư tưởng, sợ chết, giảm ý chí chiến đấu.

Đến cuối năm 1966 anh Hoành ở trong quân đội đã gần 2 năm. Thời gian không dài nhưng chắc chắn anh đã phải trải qua những thử thách, khó khăn. Tuy nhiên, giai đọan ấy người Mỹ đang mạnh cả về thế lực lẫn tinh thần. Rõ ràng nếu ta đương đầu ngay với họ sẽ gặp nhiều bất lợi. Cho nên giai đọan ấy ta “tránh nhiều hơn đánh” là vì thế. Cần phải giữ gìn lực lượng, cần nghiên cứu thêm về cách đánh làm sao đạt hiệu quả nhất. Trước một kẻ địch hùng mạnh vượt trội hơn mình nhiều lần, cần tìm ra cách đánh phù hợp mới mong dành được thắng lợi. Thời kỳ nghiên cứu và tìm cách đánh địch đã xong, bộ đội đã được học tập, nghỉ ngơi. Lần theo từng bài viết của anh, có thể kết luận thời gian gần hai năm kể trên, anh Hoành chưa tham gia trận đánh nào. Quí II năm 1966, đơn vị anh Hoành mới bắt đầu triển khai hành quân ; hay nói cách khác sau thời kỳ huấn luyện học tập, anh Hoành cùng đồng đội bước sang giai đọan mới, thực hành điều nghiên chiến trường để chuẩn bị cho những trận đánh trong các năm sau đó.

(Còn nữa)