Anh Tôi (1)

Thời Niên Thiếu

spy software for android

Anh tôi (Lời nói đâu)

Anh tôi – Nguyễn Xuân Hoành – sinh năm 1947, là con thứ 5 trong gia đình nhưng là con trai đầu nên được bà, cha mẹ và các chị rất cưng chiều. Thuở bé, vì bị bệnh đau bụng kinh niên (đau không rõ nguyên nhân, thỉnh thoảng đau và tự khỏi sau đó, người ta gọi là đau kinh niên) nên anh không được khỏe, vì vậy mặc dù nhà nghèo, anh ít phải làm lụng như những đứa trẻ khác.

Khi anh đến tuổi đi học thì chiến tranh với người Pháp vừa kết thúc. điều kiện vật chất khó khăn nhưng chế độ mới vẫn tạo cơ hội cho con em nông dân nghèo được đến trường. Cấp I, anh học trường trong xã, cấp II phải lên Đình Bảo Lâm xã Hoa Thành. Đến năm lớp 7 anh mới về học tại trường cấp II Hợp Thành. (Thời ấy thực hiện chương trình phổ thông 10 năm : Năm đầu đi học, gọi là Vở lòng, lên cấp I từ lớp 1 đến hết lớp 4, cấp II từ lớp 5 đến hết lớp 7 và cấp III từ lớp 8 đến hết lớp 10). Trường cấp II Hợp Thành được khánh thành năm 1962, là một trường học đúng nghĩa. Tuy không làm việc được nhiều, nhưng học thì anh học tốt. Từ vỡ lòng đến lớp 7 anh không phải ở lại lớp nào. Thời ấy, con nhà nào học mỗi năm một lớp, không lưu ban là dân làng xếp vào loại học giỏi.

Năm lên 12 tuổi bỗng dưng anh hết bệnh đau bụng và cơ thể bắt đầu phát triển nhanh. Lên 15, 16 thể lực của anh không kém những anh cùng lứa trong làng. Năm 1963, học hết lớp 7, anh không vượt qua được kỳ thi lên cấp III đành phải ở nhà làm ruộng. Không được tiếp tục đi học anh rất buồn, nhưng chẳng biết làm sao. Thấy anh buồn, cha tôi động viên, thôi không được đi học thì đi làm công nhân cũng được. Anh tôi không chịu. Anh bảo, con ở nhà đi cày rồi đi bộ đội chứ không đi làm công nhân. Khổ nỗi, bề ngoài nhìn anh khỏe, thế mà đi khám nghĩa vụ quân sự chỉ đạt loại A 3. Loại A 1 mới đủ tiêu chuẩn vào bộ đội. Hồi năm 1963, đầu 1964 miền Bắc đang thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự thời bình, vì vậy anh nào không đạt chuẩn thì không được vào bộ đội.

Anh ở nhà làm ruộng thật. Vì thuở nhỏ ít làm nên khi lên 16, 17 công việc đồng áng anh chưa thành thạo. Hồi đó gia đình tôi đang ngoài Hợp tác xã, làm ăn riêng lẻ. Bấy giờ trong làng chỉ còn ba bốn nhà chưa vào Hợp tác xã nữa thôi. Bạn bè đi làm tập thể vui nhộn, các anh chị tôi thì ngược lại vẫn làm riêng lẻ. Làm riêng đã buồn, lại bị dư luận chê bai, coi thường, cho rằng nhà nào không vào Hợp tác là thành phần chậm tiến. Vì tự ái, anh chị tôi liên tục nhắc nhở động viên cha mẹ đưa ruộng đất trâu bò vào Hợp tác xã. Chiều lòng các con và cũng là thời thế bắt buộc, cuối năm 1963 cha tôi làm đơn xin vào Hợp tác xã.

Bạn bè của anh trong làng vừa trai vừa gái cũng nhiều, nhưng anh Hoành chơi thân hơn cả là anh Chấp, con bà Chấp người họ Đường nhà ở liền kề nhà tôi ; anh Khổn con ông Dịnh, trong cải cánh ruộng đất bị quy thành phần địa chủ và anh Phương con ông Lan, một gia đình gia giáo trong làng.

Bà Chấp ít con (ông mất sớm, tôi lớn lên không biết), chỉ có anh Chấp và em gái là Quy. Anh Chấp hơn anh Hoành 1 tuổi nhưng cùng học một lớp. Hầu như suốt 3 năm học cấp II, buổi tối anh Hoành học và ngủ ở nhà anh Chấp. Nhà anh Chấp trở thành nơi tụ họp bạn bè, nhiều đêm anh Khổn, anh Phương cùng tập trung về đó, chuẩn bị bài vở xong rồi cùng chơi. Trẻ làng thường chơi những trò dân gian, ban ngày có trò chơi ban ngày, ban đêm có trò ban đêm. Trò chơi thường phải có ít nhất 2 người mới chơi được, vì thế bạn bè tụ họp vừa cho vui, vừa là nhu cầu để tham gia các trò chơi giải trí. Chơi cũng có nhiều trò, có trò thuần túy nhưng cũng có trò người ta gọi là nghịch dại. Thôi thì đủ thứ, bọn trẻ nít ai chấp làm gì, chơi với nhau chán rồi cãi nhau, thậm chí cố tình gây mâu thuẫn để đánh nhau. Ngoài ra, thỉnh thoảng họ còn rủ nhau đi trộm. Hai thứ các anh hay trộm là bưởi và ổi trong vườn nhà ông Trác và mía của Hợp tác xã trồng trên đồng Bùi.

Vườn nhà ông Trác nằm về phía Tây – Nam làng. Từ nhà bà Chấp tới vườn ông Trác rất gần, tuy vậy muốn vào được vườn phải vượt qua một cái ao rộng và sâu, dưới ao ông Trác cắm nhiều chông và rào gai, vừa làm chà cho cá trú ngụ vừa chống người bắt trộm. Trong vườn trồng các loại rau củ như rau cải, khoai lang, cà … và cây lâu niên như cam, bưởi, ổi, mít… Xung quanh ao và vườn là bờ tre rậm rạp, kín đáo. Dân làng thường đem những thứ bẩn thỉu và nguy hiểm như mảnh chai, mảnh sành, vỏ ốc, vỏ trai đổ vào các bụi tre và đây là những thứ nguy hiểm dành cho những bàn chân không dày dép. Thời ấy thì mấy đứa có dày dép mà đi.

Để vào vườn trồng tỉa, chăm sóc cây cối, ông Trác làm một chiếc cầu bắc qua ao. Gọi là cầu nhưng chỉ một cây tre nối từ bờ phía làng sang bờ bên vườn và một cây tre nhỏ khác làm lan can tay vịn. Cầu đi lắt lẻo, lúc lắc, ban ngày ban mặt đi không cẩn thận còn rơi xuống ao. Ấy thế mà nhóm bạn anh Hoành vẫn không ngần ngại, thỉnh thoảng đêm tối còn đột nhập vào vườn ăn trộm trái cây. Ông bà Trác có anh Trác cùng lứa với anh Hoành. Anh Trác không gia nhập nhóm bạn của anh nhưng vẫn thường chơi với nhau, vì thế anh Trác là kẻ chỉ điểm báo tin cho các anh biết trong vườn có gì có thể ăn được để ban đêm rình mò đột nhập vào khuơ khoắng.

Ăn trộm mía thì khác. Mía Hợp tác xã trồng trên đồng Bùi, xa làng hơn nên đi lấy thoải mái, chỉ có điều mía phải chờ đến mùa chứ không phải lúc nào cũng có. Về mùa đông, thi thoảng vào ban đêm các anh mò lên đồng Bùi bẻ mía ăn chán chê rồi còn vác về nhà anh Chấp dấu kín để ăn dần.

Bạn gái cùng lứa trong làng thì đông nhưng thuở ấy con trai con gái ít chơi với nhau nên không thấy anh thận thiết với chị nào cả. Sau khi anh đi bộ đội, thỉnh thoảng tôi thấy chị Chuyên, bạn học cùng lớp của anh là con ông Tiếp, thầy thuốc đông y ở xóm ngoài lại nhà chơi, thủ thỉ chuyện trò với mẹ. Nghe đồn, hình như trước khi anh đi bộ đội hai người có hẹn hò gì đó. Nhưng đó là tin đồn. Thực tế tôi chẳng nghe anh, hay chị Chuyên nói đến chuyện ấy bao giờ. Vả lại, vài năm sau chị Chuyên nhận lời đính hôn với người khác trong làng nên có lẽ tin đồn về anh chị là không đúng.

Tôi là em trai, ít hơn anh 5 tuổi, thỉnh thoảng được các anh cho đi theo, nhất là khi các anh trộm được mía, trái cây ! Tuổi nhỏ thường vẫn bị những trò nghịch dại như thế lôi cuốn, thu hút. Thật ra, các anh đều xuất thân từ những gia đình tử tế và bản chất các anh đều trung thực, thật thà. Đến khi khôn lớn các anh không làm những trò khờ dại như thế nữa.

Ngoài công việc đồng áng, lớn lên anh Hoành còn tham gia những công việc nặng nhọc hơn như đi cắt lá, lấy củi, đào củ mài, chặt trúc, chặt nứa, chẻ hom tranh phụ với cha.

Những người trụ cột gia đình trong làng như cha tôi, sau mùa vụ cày cấy lại rủ nhau lên rừng, công việc đồng áng giao lại cho phụ nữ. Ngày ấy đói kém lắm, năm nào nhà tôi cũng thiếu ăn vài ba tháng. Để khắc phục tình trạng thiếu đói triền miên cha tôi phải lên rừng đào củ mài, khai thác lâm sản đem về đưa ra chợ bán mua gạo mua khoai. Muốn khai thác các loại như trúc, nâu, hom tranh từ làng Phan phải đi khoảng 15 cây số mà toàn đi bộ. Anh tôi tham gia những công việc ấy cùng cha. Nghe kể có lần hai cha con đi lấy hom tranh, khi về làm tới ba gánh ! Hai người mà ba gánh thì làm sao ? Thế này : Khi ra về hai cha con gánh hai gánh, để lại một gánh ; đến khi mệt, phải dừng lại nghỉ, rồi anh tôi đi tiếp về xuôi, cha thì quay ngược lại chuyền gánh thứ 3. Nghĩa là thay vì mệt phải dừng lại ngồi nghỉ rồi mới đi tiếp ; đàng này, khi nghỉ không ngồi mà đi ngược lại để gánh gánh còn lại,  đi ngược lại không phải gánh cũng như ngồi nghỉ vậy. Cứ thế hai cha con thay đổi nhau quay đi quay lại cho đến khi gặp người nhà đi đón mới thôi.

Làm lụng vất vả, cực nhọc, nhưng thời gian anh Hoành ở nhà giúp đỡ cha mẹ không lâu. Sang năm 1964, lần lượt anh Phương xuống Diễn Châu học cấp III, anh Khổn đi làm công nhân, anh Chấp đi bộ đội, còn mỗi anh Hoành ở nhà. Nhóm bạn của anh coi như giải tán, giao lại cho chúng tôi. Thế hệ sau các anh gồm tôi, Đấu em anh Khổn, Thắng em anh Phương, Quy em anh Chấp và một số đứa nữa tiếp tục duy trì sinh hoạt ở nhà Bà Chấp mãi tới năm 1971, khi tôi lên đường nhập ngũ, Quy lấy chồng mới tạm thời chấm dứt hoàn toàn.

T.Q. (Còn nữa)